Sơ lược về đặc điểm của các thể thơ Việt Nam ?

Các thể thơ chính trong văn học Việt Nam?
Nhìn chung, các thể loại thơ đã trở thành một hình thức diễn đạt chính trong suốt chiều dài lịch sử văn học Việt Nam, với số lượng trên vài nghìn bài ở mỗi thể thơ. Ở mỗi giai đoạn văn học khác nhau, sẽ có những thể thơ thịnh thế và được ưa chuộng hơn các thể loại thơ khác.

Bên cạnh văn xuôi, văn biền ngẫu và câu đối, trong suốt chiều dài lịch sử, có 12 thể thơ chính xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm thơ ca thi phú ở Việt Nam, gồm có:
- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật
- Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường Luật
- Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường Luật
- Thể thơ Lục Bát
- Thể thơ song thất lục bát
- Thể thơ bốn chữ
- Thể thơ năm chữ
- Thể thơ sáu chữ
- Thể thơ bảy chữ
- Thể thơ tám chữ
- Thể thơ tự do
Sơ lược về các thể thơ chính trong các giai đoạn văn học Việt Nam
Giai đoạn văn học chữ Hán:
Khi Đại Việt giành được độc lập, chữ Hán của người Trung Hoa là bộ chữ được triều đình và quan lại quý tộc ưa chuộng hơn cả, bởi tính biểu ý và biểu nghĩa của nó đều đạt mức độ đỉnh cao, ngôn từ ngắn gọn nhưng lại tinh xảo, khéo léo. Từ năm 938, các thể thơ cũng vì theo văn học chữ Hán mà học tập, nên các bài thơ cũng đi theo các thể thơ Đường Luật là chính.
Nhưng hưng thịnh nhất phải kể đến, từ khi Lý Thái Tổ lên ngôi, kinh tế phát triển, thơ ca mới dần đi lên. Những tác phẩm nghệ thuật ra đời trong hoàn cảnh đó, phản ánh một phần về sự hưng thịnh của đất nước. Vua chúa, quý tộc là những người tiếp nhận sớm nhất các loại thể thơ chữ Hán, dùng để bộc lộ tâm trạng trước cảnh đẹp quê hương.
Xem thêm: Tiến trình của các thể loại văn học trung đại Việt Nam
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật (七言八句) là thể thơ có tổng cộng 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Tổng cộng cả bài thơ sẽ có 56 chữ. Thể thơ này xuất hiện trong thi ca cổ của Trung Hoa, đến thời nhà Đường thì hoàn chỉnh về mặt quy luật gieo vần, quy luật Bằng Trắc. Vào thời kỳ hưng thịnh của văn học chữ Hán, thể thơ này được dùng rất thường xuyên, bởi quy luật nghiêm ngặt đã giúp bài thơ trong cứng có mềm, khi thì sừng sững, vững chãi như núi, nhưng cũng uyển chuyển như suối sông trên nguồn.

Nhìn chung, thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật có quy luật chặt chẽ trong cách gieo vần, xoay quanh các quy luật Bằng Trắc lên xuống nhịp nhàng giúp câu thơ trở nên bay bổng: “Nhật, ngũ, lục bất luận/Nhị, tứ, lục phân minh”.
Tức là các chữ 1, 3, 5 có thể tùy ý sắp xếp, nhưng chữ 2, 4, 6 thì phải theo luật. Cụ thể là, nếu câu thơ đầu đang theo cấu trúc Trắc-Bằng-Trắc ở các tiếng 2, 4, 6 thì câu tiếp theo phải gieo vần ngược lại. Ví dụ dưới đây được trích từ bài thơ Thương Vợ do nhà Nho Sĩ Tú Xương sáng tác:
Quanh năm (B) buôn bán (T) ở mom (B) sông,
Nuôi đủ (T) năm con (B) với một (T) chồng.
Bên cạnh đó, trong 8 câu thơ, thể thơ Thất ngôn bát cú cũng chia ra làm 4 phần: mở - thực - luận - kết: dùng 2 câu đầu dùng để giới thiệu bối cảnh bài thơ, hai câu kế tiếp thì dùng để tả thực phong cảnh, con người. Tiếp đến là hai câu thơ luận bàn, và cuối cùng là kết. Trong đó, hai câu kết không cần phải đối nhau về vần và nghĩa, nhưng 3 cặp câu ở trên thì phải có sự tương xứng, tương phản thích hợp.
Các quy luật chặt chẽ của thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật như một lời giáo huấn răn đe, thể hiện rõ tính âm dương trong triết lý Trung Hoa cổ đại: bản chất vạn vật muốn êm ấm, thì phải luôn xoay quanh quan hệ thuận hòa giữa Thiên (trời) Địa (Đất) và Nhân (con người).
Thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt
Vào khoảng thế kỷ XII thời nhà Đường, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ra đời, mở ra một thời kỳ văn chương mới cho cả các nước trong khu vực Đông Á Tứ Đại Đồng Văn, trong đó Việt Nam là nước đã học hỏi và tiếp nhận sự đổi mới này khá nhanh chóng.
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt là thể thơ có 4 câu và mỗi câu 7 chữ, được quy định chặt chẽ về sự đối xứng giữa các câu, nên các bài thơ làm theo thể thơ này nhìn chung đều đạt đến trình độ hoàn mỹ.
Là một trong các thể thơ Đường Luật, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt quy định gieo vần ở các câu 2, 4 hoặc 1, 2, 4. Ngoài ra về Niêm Luật, cặp câu 1-4 phải đối xứng với nhau về luật Bằng-Trắc, tương tự với cặp câu 2-3. Cũng giống như thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật, 4 câu thơ cũng được chia thành 4 giai đoạn chuyển ý: khai, thừa, chuyển, hợp. Tức là khai ý (mở đầu bài thơ bằng một ý định), rồi thừa ý (phát triển ý từ câu khai), rồi chuyển (chuyển qua một đề tài tương tự có liên quan đến câu khai và câu thừa), và hợp ý (hợp 3 câu ở trên lại thành một câu thơ kết có tính tổng quát).

(Hồ Xuân Hương, được mệnh danh bà chúa thơ Nôm, đã làm chủ được thể thơ này và biến nó thành chất riêng trong thơ của bà)
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sự chặt chẽ trong quy luật và số chữ lẫn số câu đều đại diện cho sự tròn vẹn toàn diện trong tâm thức người Trung Hoa. Các cặp câu đối xứng đòi hỏi người viết phải am hiểu về luật gieo vần, niêm luật đối xứng, cũng nhờ đó mà các bài thơ làm theo thể thơ này đạt đến trình độ thẩm mỹ cao.
Khác với thể thơ thất ngôn bát cú đường Luật, các câu thơ trong thể thơ thất ngôn tứ tuyệt thể hiện sự tuyển chọn trong ngôn từ, rằng mỗi câu thơ khi đã ráp vào bài thơ thì không thể thêm, không thể bớt ra nữa. Chữ "tuyệt" mang nghĩa là kết thúc, chấm dứt, ngụ ý rằng những gì cần nói đã nói hết trong bài thơ, không thể thêm hoặc bớt nữa. Có lẽ vì vậy mà các bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cứ mang một dáng vẻ bí ẩn, đôi khi ta có thể chưa hiểu hết những gì người viết muốn truyền đạt.
Thể thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường Luật
Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt là một thể thơ giản đơn, gồm bốn câu thơ và mỗi câu có năm chữ. Nhìn chung, quy luật gieo vần và niêm luật đối xứng có phần tương đồng với thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt, tuy nhiên vì lược bỏ đi 2 chữ cuối khiến cho bài thơ có phần ngắn, như một đoạn biền ngẫu tạp văn tự nhiên khi nhà thơ bỗng tức cảnh sinh tình, muốn đưa ý tứ của mình phổ thành thơ nhanh chóng.
Dưới đây là bài thơTĩnh Dạ Tứcủa Lý Bạch, một thiên tài thơ cả nổi danh khắp Đông Á đồng văn với sở trường là những bài thơ trữ tình tả cảnh theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, bộc bạch tâm trạng trong đêm tĩnh mịch nhìn thấy trăng sáng trên trời:
"Sàng tiền (B) minh nguyệt (T) quang
Nghi thị (T) địa thượng (T) sương
Cử đầu (B) vọng minh (B) nguyệt
Đê đầu (B) tư cố (T) hương”
Văn học chữ Nôm:
Tuy đã bắt đầu xuất hiện chữ Nôm từ những năm của thế kỷ XII, các thể thơ chữ Nôm không thực sự nổi bật, bởi hầu hết các tác giả đều sử dụng Đường Luật để sáng tác nên các tác phẩm của mình. Có người cho rằng, văn học chữ Nôm không có chỗ đứng là quý tộc và vua chúa bấy giờ, vẫn dùng chữ Hán trong hầu hết các văn bản hành chính, mãi về sau mới dần chuyển sang chữ Nôm.
Đôi chỗ niêm luật được gỡ bỏ khiến cho thể thơ Nôm dễ dàng phổ thơ hơn, lời thơ cũng vì thế mà mượt mà nhiều phần. Một trong các thể thơ Nôm do chính người Việt sáng tạo nên đã trở thành một di sản văn hóa, đại diện cho ý chí thoát ly, muốn được độc lập của người Việt. Ấy chính là thể thơ lục bát.
Thể thơ lục bát:
Thể thơ lục bát là thể thơ gồm một câu 6 chữ và một câu 8 chữ ghép thành một cặp câu với độ dài không cố định. Trong các thể thơ xuất hiện trong văn học Việt Nam, thơ lục bát đã mở đầu cho sự tự do, phóng khoáng trong việc sắp xếp các câu thơ, bằng việc không giới hạn số câu có trong bài. Một bài thơ có thể có đến hàng nghìn câu thơ lục bát, được ghép từ nhiều cặp câu lục bát khác nhau.
Quy luật gieo vần thể thơ lục bát nhìn chung phải tuân theo 3 quy tắc: quy tắc gieo vần 6-8, quy tắc bằng trắc và quy tắc ngắt nhịp thơ. Thơ lục bát xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm văn học chữ Nôm trung đại đến cận hiện đại, trong đó phần nhiều là những câu ca dao tục ngữ được phối lại vào thơ lục bát để lưu trữ, phần nào thể hiện được nét văn hóa sinh hoạt của làng quê nông thôn Việt xưa.
Có người cho rằng, thể thơ lục bát chính là lấy ý tưởng từ lối nói văn vần của người miền Bắc xưa. Cách nói chuyện của họ khéo léo và uyển chuyển, lại biết phối ý cùng nhau khiến thơ lục bát trở nên phong phú, lại dễ sử dụng trong đời sống.
Xem thêm: Thơ lục bát là gì? Cách xác định thể thơ lục bát.
Thể thơ Song thất lục bát
Như tên gọi của nó, song thất lục bát là thể thơ gồm có 1 cặp câu bảy chữ và 1 cặp câu lục bát ghép lại với nhau thành một khổ thơ, liên tục cho đến khi hết bài. Song thất lục bát cùng với thể thơ lục bát đã trở thành các thể thơ Nôm được ưa chuộng từ thế kỷ XV đến tận thế kỷ XX. Các tác giả sau này như Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Phan Huy Thông… cũng vẫn ưa chuộng thể thơ này, và họ cũng viết một vài bài thơ thể theo thể thơ này. Trong đó, nổi bật nhất là bản dịch Chinh Phụ Ngâm khúc thành thơ Nôm, sử dụng thể thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm.
Quy luật gieo vần của thể thơ Song thất lục bát nhìn chung là có sự liên kết giữa cặp câu bảy chữ và cặp lục bát: chữ thứ bảy của câu đầu phải vần với chữ thứ 5 của câu bảy sau; chữ thứ bảy của câu bảy sau thì lại vần với chữ cuối câu lục, chữ cuối câu lục thì vần với chữ thứ sáu của câu bát; cuối cùng là chữ cuối câu bát lại vần với chữ thứ 5 của câu bảy tiếp theo.
Nhìn chung, song thất lục bát là một bước chuyển giao giữa việc tiếp nhận tri thức từ văn minh Trung Hoa, song song đó là đồng hóa với sản phẩm văn hóa của Việt Nam. Một thể thơ ít được sử dụng nhưng lại mang ý nghĩa chuyển giao quan trọng trong thơ ca nước nhà.
Văn học hiện đại
Khoảnh khắc thực dân Pháp chính thức đô hộ Việt Nam ta vào những năm cuối thế kỷ XIX, Văn học Việt Nam đã chính thức bước sang giai đoạn mới. Các thể thơ Đường Luật dần thất thế trước sự lên ngôi của các thể thơ mới, các thể loại truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết khác nhau. Khi thời thế thay đổi, mỗi khoảnh khắc tự do cũng trở nên đẹp đẽ, thơ mộng đến lạ, chẳng cần đi đến núi non xa xăm, trong khi tình cảnh trước mắt đã đẹp nao lòng người.

Đi theo tiến trình phát triển tất yếu của thơ ca, thơ ca chuyển mình từ những điều răn giáo dục, những tác phẩm thơ ca đẹp đẽ về ngôn từ và giàu sức tạo hình sang những tác phẩm khai phá sự trần trụi của nội tâm con người. Chính vì vậy, thơ Đường Luật trở nên lỗi thời, nhiều quy luật về Niêm, Vần đã bị gỡ bỏ và những người Nho sĩ vẫn còn hoài niệm về quá khứ đã có thể phổ thêm cảm xúc của mình vào thơ ca. Tính cá nhân của người nghệ sĩ giờ đây như được thổi bùng lên trong giai đoạn thơ ca mới, ai cũng muốn bày tỏ tiếng nói của mình, quan điểm của mình.

Bên cạnh đó, đặc biệt của thời kỳ văn học này là thơ Mới, một thể thơ nghệ thuật hóa sự dân dã trong đời sống hằng ngày. Cũng giống như Pop Art biến những món đồ vật bình dân thành nghệ thuật, thơ Mới đã nghệ thuật hóa ngôn ngữ thường ngày bình dị của người bình dân, biến nó thành những tác phẩm thơ ca có sức biểu ý cao.
Thơ mới, như một cuộc cách mạng, đạp đổ đi những gì lỗi thời để ý tứ con người được bay bổng tự do, để tiếng nói của lòng người cũng thi vị như cảnh núi non vậy. Phong trào thơ mới đã tái định nghĩa về cái đẹp, đánh dấu cho sự chuyển mình của giai đoạn mới, giai đoạn con người phương Đông tiếp nhận tính cá nhân của phương Tây, để mỗi người đều có thể cất tiếng nói của mình.
Không ít nhà Nho học thức, đứng trước sự đổi mới này mà không khỏi bất bình. Nhưng có lẽ sự thay đổi của các thể thơ Việt Nam chính là phản ánh giai đoạn lịch sử văn hóa mới của đất nước: chúng ta đang tiến đến tương lai mới.
Thể thơ bốn, năm, sáu, bảy, tám chữ
Nhìn chung, cả năm thể thơ này đều là những thể thơ có số chữ tương ứng với tên gọi, và không có sự giới hạn ở số câu. Bên cạnh sự tự do trong quy tắc gieo vần, các câu thơ này đôi khi là những sự phối ngẫu hợp ý, từ những khổ câu năm chữ, rồi nâng dần lên sáu, bảy, tám chữ. Mục đích của các thể thơ này vốn chỉ như một chiếc khung, còn đối với tác giả thơ Mới, các thể thơ này đều được sử dụng để biểu đạt bản sắc cá nhân của tác giả, truyền đạt đến người đọc những tâm tư, nguyện vọng và ý chí khát khao mà họ đang sở hữu.

Trong các thể thơ nêu trên, thể thơ năm chữ và thể thơ bảy chữ có lẽ vẫn được ưa chuộng hơn ba thể thơ còn lại một chút. Đặc trưng trong cách gieo vần thơ của người Việt vẫn luôn đi theo nhịp thơ 2/3, hoặc 4/3, đôi khi là 2/2/3, chính vì vậy các thể thơ có số chữ ở dạng số lẻ sẽ thuận tiện trong việc gieo vần thơ hơn.
Hai ví dụ điển hình của nhận định này có thể đến từ xu hướng sáng tác thơ của Hữu Thỉnh và Hàn Mặc Tử, với bài thơ Sang Thu và Đây Thôn Vĩ Dạ. Được viết theo thể thơ năm chữ, Sang Thu như đang tả lại cảnh trời đang chuyển mùa thu trong sự ngỡ ngàng của người ngắm cảnh; trong khi đó bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ như một đoạn hồi ức mơ hồ trong tâm hồn tác giả về một làng quê ở miền Trung Việt Nam, được thể theo thể thơ bảy chữ.
(Theo lời Hữu Thỉnh, Sang Thu là cảm giác bất ngờ của người chiến sĩ, nhìn thấy mùa thu bình yên đang chầm chậm tiến đến sau năm 1975 thống nhất đất nước)
Bên cạnh đó, Huy Cận với bài thơ Tràng Giang, cũng được viết theo thể thơ bảy chữ, như một lời xác nhận cho xu hướng sáng tác thơ theo nhịp vần đã được nhắc đến bên trên.
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Mây bắt đầu vội vã
Sông được lúc dềnh dàng
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
(Sang thu_Hữu Thỉnh)
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Đây thôn Vĩ Dạ_Hàn Mặc Tử)
(Nhiều nhà phê bình cho rằng, sự ẩn mình mập mờ của người con gái trong bài đây thôn Vĩ Dạ tượng trưng cho người con gái mà Hàn Mặc Tử yêu say đắm)
Thơ tự do
Như tên gọi của nó, thơ tự do không hề có một quy luật nào cả về gieo vần lẫn niêm luật đối xứng. Sở dĩ thơ tự do có tên gọi như vậy, là vì những tác giả sáng tác thơ tự do đã từng bước phá vỡ tất cả các luật lệ của thơ ca cũ, mở đường cho một thời đại văn chương tự do mới.
Trong các thể thơ, thơ tự do là thể thơ phóng khoáng, chủ yếu dùng để bộc lộ ý chí cá nhân của tác giả. Có thể nói rằng, thơ tự do chính là đại diện cho một tâm hồn nghệ sĩ đã được tự do, không còn bị định kiến và sự ràng buộc của lễ giáo chi phối nữa. Thơ ca của họ phóng khoáng đến mức, đôi khi người đọc cũng bị nguồn năng lượng dồi dào ấy cuốn lấy, làm cho phấn chấn và xuôi theo nhịp điệu của tác giả.
(Thơ Xuân Diệu vừa phóng khoáng, vừa thở than. Những từ ngữ ông dùng trong thơ chẳng cao sang, chỉ có một sự bình dị vỏn vẹn, nhưng đọc đến đâu, ca từ lại thấm đến đó, khiến nỗi lòng trở nên thật hơn)
Dưới đây là trích đoạn của bài thơ Yêu do Xuân Diệu sáng tác, một tác giả nổi tiếng với tinh thần vội vàng, phóng khoáng trong nhịp thơ, khiến bài thơ luôn dồn dập, thôi thúc người đọc cũng cảm thấy như được vui lây:
Yêu, là chết ở trong lòng một ít,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu:
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.
Kết:
Nhìn chung ở mỗi giai đoạn, các thể thơ Việt Nam vẫn luôn uyển chuyển thể hiện được tư tưởng chung của thời đại, với các thể loại thơ Đường Luật, cái đẹp tinh tế trong cách phối vần và Niêm đối khiến cho bài thơ thêm phần cung kính, cao quý bội phần. Các thể thơ Nôm, tuy cũng lấy luật thơ Đường làm chủ đạo, nhưng vẫn có cho mình những nét sáng tạo riêng, thể hiện ý chí tự cường của người Việt. Thơ mới, hay thơ tự do thì lại đại diện cho tinh thần tự do, cho một tâm hồn nghệ sĩ tự do ngôn luận, thỏa thích bày tỏ ý kiến riêng.
Mỗi giai đoạn trong các thể thơ đều có những nét đẹp riêng của mình, có lẽ đó cũng là lý do vì sao trong văn học Việt Nam, thơ ca vẫn là mảnh đất màu mỡ, như hàng nghìn năm văn học vẫn đang sống và chuyển động trước mắt.
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Tập san là gì? Khái niệm & cách phân biệt với tạp chí
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Nhân vô thập toàn là gì? Hiểu đúng về câu nói hay của người xưa
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Câu kể là gì? Cấu tạo, phân loại và ví dụ minh họa chi tiết





