Nghị luận văn học nâng cao: Chức năng của hình tượng nghệ thuật

Thứ sáu - 02/01/2026 10:39

Trong quá trình luyện đề Nghị luận văn học, một cách để cải thiện diễn đạt và nâng cao tư duy là học hỏi những bài viết mẫu. Hôm nay, hãy cùng Thích Văn học gợi mở một vài ý tưởng qua đề Nghị luận văn học về Chức năng của hình tượng nghệ thuật nhé!

Đề bài Nghị luận văn học: “Hình tượng nghệ thuật không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật trong truyện, đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình”

(Lí luận văn học, Trần Đình Sử, NXB ĐHSP, 2008, tr. 219-220)

Bằng trải nghiệm văn học, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Bài làm

Văn học “từ bao giờ cho đến bây giờ” đều mang tới một thanh âm quảng đại đánh thức con người trong chiêm mộng ngủ nghê. Bởi lẽ, qua mỗi tác phẩm, mỗi trang văn, bạn đọc như được lội qua một dòng sông cuộc đời vốn đầy chìm nổi, được đánh thức bởi những cảnh ngộ khốn cùng hay sướng vui. Trong những khuôn mặt, những số phận vốn đa đoan của hình tượng nghệ thuật, biết đâu người ta còn có thể nhìn thấy bóng dáng của chính mình. Văn học trước sau đều là sự gặp gỡ, là những cuộc đối thoại nối dài. Tiếng nói chất vấn qua những hình tượng đã có lần được Giáo sư Trần Đình Sử xác quyết: “Hình tượng nghệ thuật không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật trong truyện, đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình“.

Văn học nhận thức đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm, khát vọng và mơ ước của con người thông qua hình tượng nghệ thuật. Hình tượng “là phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo đời sống theo quy luật của nghệ thuật” (theo Từ điển Văn học). Khác với khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lý hay công thức mà thông qua hình tượng. Anh làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, hiện tượng của đời sống, làm cho ta suy nghĩ về tính cách, số phận, tình đời, tình người. Hình tượng nghệ thuật là phương thức giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và độc giả, là thế giới sống do nhà văn tạo ra bằng sức gợi ngôn từ. Hình tượng vừa có tính chung, phổ biến, khái quát và thống nhất mang ý nghĩa thẩm mỹ, vừa có tính riêng - nét độc đáo, cá biệt. Điều đó được biểu hiện qua hình dáng, lời nói, tính cách, số phận, qua mối quan hệ của nhân vật với những nhân vật khác. Hình tượng có khả năng “khơi dậy sự đồng cảm”, làm người đọc xúc động, dấy lên trong con người ta sự đồng điệu, thấu hiểu về hoàn cảnh của nhân vật, những thử thách nghiệt ngã của số phận mà nhân vật nếm trải. Hình tượng còn “cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại” về đời sống nhân sinh, làm người đọc muốn trò chuyện, tranh luận những vấn đề được gợi ra từ trang sách. Như vậy, ý kiến của nhà phê bình Trần Đình Sử là một ý kiến vô cùng xác đáng và sâu sắc về về vai trò và chức năng của hình tượng nghệ thuật.

Milan Kundera từng tâm niệm: “ Văn chương là nơi sự phán xét ngưng lại để nhường chỗ cho sự thấu hiểu”. Phải chăng, văn chương là địa hạt ươm mầm yêu thương, gieo vào trái tim của biết bao bạn đọc cái “lòng thương, tình bác ái, sự công bình” như xưa kia Nam Cao đã từng thổn thức. Và hình tượng nghệ thuật, bằng sức chứa tư tưởng lớn của mình, dù chỉ là một sự hiện diện đôi khi thật nhỏ bé như một bông hoa, một vầng trăng hay trở thành một nhân vật điển hình như một nàng Thúy Kiều, một người chinh phụ, một người lính kháng chiến… đã khái quát hiện thực đời sống, hướng người đọc đến cái chân - thiện - mỹ ở đời. Văn học là tấm gương phản ánh của cuộc sống, phản ánh những sự thật của cuộc sống, của con người thông qua hình tượng. Mà sự thật của con người, không gì đa dạng, phức tạp hơn sự thật của trái tim. Văn học trở thành sứ giả của trái tim, trở thành cây đàn muôn điệu tấu lên muôn vàn cung bậc rung động trong tâm hồn con người. Khác với đạo đức học, triết học, quá trình tác động của văn học là quá trình đi từ trái tim tới khối óc, từ tình cảm tới lý trí, từ cảm tính tới lí tính. Văn học đi từ nhận thức đến tự nhận thức, giáo dục đến tự giáo dục. Vậy nên, để con người có sức mạnh cải tạo xã hội và gánh vác lịch sử, văn học, thông qua những hình tượng nghệ thuật, cần truyền cho họ nguồn cảm hứng sống, cho họ nhận ra bầu máu nóng sục sôi trong trái tim mình, cho họ nghe được và đồng cảm được với những “tiếng cười hân hoan hay những tiếng khóc than đau khổ” của thời đại, giúp họ nhận ra ước mơ, khát vọng của con người. Văn học tác động vào trái tim bạn đọc, “khơi dậy sự đồng cảm” để tiếp thêm cho họ tình yêu cuộc sống, để từ đó họ cải tạo, thay đổi cuộc sống.

Đi vào cuộc đời lừng lững với ngòi bút của mình, thiên chức của nhà văn là khúc chiết hiện thực trước mắt vào từng trang văn. Bởi cuộc đời vốn dĩ xoay vần không hồi kết, buổi khai màn hay thời bế mạc đều được người nghệ sĩ hoá thân vào mà sống, viết và cảm thụ hết mình. Thế nhưng, một tác phẩm chân chính không chỉ dừng ở đường biên sự thật, nó phải thoát thai ra khỏi những định lý thông thường, phải chấp nhận phủ định sự sao chép y nguyên. Nhà văn sáng tạo tác phẩm không phải chỉ để truyền tải những tư tưởng khô cứng, vô hồn. Goeth đã từng nói: “Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ có cây đời mãi xanh tươi”. Hình tượng nghệ thuật, do vậy, ngoài “khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong truyện”, còn tạo ra một diễn đàn dân chủ nơi tác giả và bạn đọc đối thoại, và hơn thế, là cầu nối giữa tâm hồn với tâm hồn, giữa trái tim với trái tim, nơi nhà văn giãi bày tâm tư, và gửi gắm vào đó một tiếng lòng mong chờ sự đồng vọng. Đến lượt mình, khi cảm nhận được tiếng lòng ấy, khi rung cảm với những cung bậc cảm xúc trong tác phẩm văn học, bạn đọc dường như cũng tìm thấy chính mình trong đó, cảm thấy được khích lệ hay được an ủi, cảm thấy được thấu hiểu, từ đó có những cuộc tự đối thoại.

Trong nỗ lực tìm tòi và khám phá nghệ thuật, Povlenko đã từng chiêm nghiệm: “Tôi thu thập hình tượng cũng như con ong hút mật vậy. Một con ong phải bay một đoạn đường bằng sáu lần xích đạo trong một năm ba tháng và đậu lên bảy triệu bông hoa để làm nên một gam mật”. Tạo ra một hình tượng nghệ thuật là công việc “hao mòn tim và mai một tâm hồn” người nghệ sĩ. Chính vì thế mà hôm nay dừng tay trên trang văn của Nam Cao, đón nhận hình tượng nhân vật Lão Hạc trong cái đói cái nghèo của giai đoạn 1930-1945 ta thấy càng trân trọng hơn nữa. Tác phẩm chính là một minh chứng tiêu biểu cho tính đúng đắn của lời nhận định mà Trần Đình Sử đã luôn tâm niệm. Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Trong cuộc đời cầm bút ngắn ngủi của mình, ông đã kịp để lại cho dân tộc ta những sáng tác vô giá, những kiệt tác văn chương bất hủ. Nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là hình ảnh tiêu biểu về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám chịu nhiều bất hạnh nhưng vẫn sáng ngời phẩm chất.

Cuộc đời Lão Hạc là một chuỗi những đau khổ và bất hạnh, một kiếp đời chua chát và đắng cay, cơ cực và đau khổ tận cùng. Lão góa vợ từ lúc còn trẻ, một mình gà trống nuôi con trong cảnh đói nghèo, lam lũ, những mong con khôn lớn trưởng thành làm chỗ nương tựa lúc ốm đau, khi tuổi già. Nhưng hạnh phúc nhỏ nhoi ấy đã không đến với lão. Vì không đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên làm phu đồn điền cao su. Lão thấy mình có lỗi với con và điều này làm cho lão day dứt mãi. Nỗi thương nhớ mong chờ con thường trực trong lòng người cha biến thành sự khắc khoải ngóng trông: Thằng cháu nhà tôi dễ hơn một năm nay không có giấy má gì đấy ông giáo ạ. Cuộc đối thoại giữa lão Hạc và ông giáo đã phần nào khẳng định tình thương của một người cha túng quẫn, nghèo khổ dành cho đứa con của mình.

Nam Cao luôn nhìn đời bằng con mắt tình thương. Chính vì quan niệm ấy mà những trang văn của Nam Cao luôn đặt nhân vật của mình trong tình thế cheo leo giữa nhân tính và thú tính, giữa say và tỉnh, giữa sự sống và cái chết. Nhưng đến cuối cùng Nam Cao vẫn cho thấy sự tin tưởng của mình vào phẩm chất lương thiện của người nông dân. Lão Hạc là một người cha giàu lòng yêu thương con, có lòng tự trọng cao và đặc biệt là một người ân nghĩa, lão nghĩa tình với cả con vật của mình. Khi đã tuổi già sức yếu, không làm gì để kiếm ăn được, lão chẳng dám đụng vào số tiền bòn vườn của con, chỉ dám ăn sung luộc. Và chính trong cảnh ngộ thê thảm, buồn bã ấy, cậu Vàng xuất hiện, con chó đã mang lại cho lão ý nghĩ để tiếp tục sống, tiếp tục bám víu vào cuộc đời. Con vật trở thành người bạn thân tình, bầu bạn, sớm hôm cùng lão, giúp lão khuây khỏa đi nỗi nhớ con trai, vơi đi nỗi cô quạnh của tuổi già, xế bóng. Con Vàng còn chính là sợi dây kết nối của lão với đứa con trai mà lão rất mực yêu thương. Lão gọi là cậu Vàng như đứa con cầu tự, lão bắt rận, tắm, trò chuyện, cưng nựng, cho nó ăn trong cái bát như nhà giàu, ăn gì cũng gắp cho nó, chửi yêu vỗ về nó… Trước khi bán lão đắn đo suy nghĩ rất nhiều. Thế rồi sau khi bán lão sang nhà ông giáo với một thân xác hoàn toàn vụn vỡ, sự vụn vỡ của một tâm hồn đôn hậu, rất mực thiện lương: “Cậu Vàng đi đời rồi ông giáo ạ….lão cố làm ra vui vẻ, cười như mếu, đôi mắt ầng ậng nước, mặt lão đột nhiên co rúm lại, những vết nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra, lão mếu như con nít và hu hu khóc…” Nam Cao đã phác thảo nên một chân dung hết sức chân thực, sinh động. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, nhà văn đã bóc trần một tâm hồn quá đau đớn, day dứt, hối hận, ăn năn, vì trót làm một điều gì đó thật ghê sợ, “lão thấy có lỗi với con chó, lão cay đắng tủi hờn cho số kiếp cùng quẫn, lão xót thương cho con Vàng, xót thương cho chính lão, lão đã bán đi con vật mà lão yêu thương hơn chính mình, lão thấy cuộc đời lão không còn ý nghĩa”. Từng lời văn như cứa vào trái tim độc giả, để ta như rung lên cùng với những đớn đau của một ông lão tội nghiệp đã phải sống một cuộc đời cô đơn, bất hạnh. Hình tượng ấy “khơi gợi” trong ta nỗi xót xa với những phận người nhỏ bé, quằn quại sống, khao khát yêu thương nhưng vì cái nghèo mà phải bất lực buông xuôi.

Lão Hạc là một nhân vật giàu tình yêu thương và lòng tự trọng ở ngay trong xã hội tàn ác. Đớn đau thay, xã hội vô nhân đạo đã đẩy lão vào bước đường cùng, không cho lão được sống tiếp, lão chỉ có thể lựa chọn cho mình con đường duy nhất là tìm đến cái chết. Người đọc sẽ mãi ám ảnh với cái chết của lão: “Lão đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại giật mạnh một cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ mới chết. Quả là một cái chết dữ dội, đầy thương tâm và ám ảnh của người ăn bả chó”. Đấy là cái chết được chuẩn bị chu đáo “đâu vào đấy”, một cái chết chạy trốn tương lai. Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn dữ dội vì ăn bả chó của Lão Hạc, ông giáo mới vỡ ra: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn hay vẫn đáng buồn theo một nghĩa khác”. Nam Cao bằng ngòi bút lạnh lùng khi sử dụng ngôi kể thứ ba, không can dự vào diễn biến câu chuyện, đã để cho tâm tư chất chứa của ông giáo tuôn trào theo dòng mạch suy nghĩ chân thành, sâu sắc về Lão Hạc và người nông dân… “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta, nếu không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dỡ, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”. Người con đất Hà Nam ấy đã gửi vào “Lão Hạc” một trái tim nhân đạo cao cả, một triết lý nhân sinh sâu sắc. Biết rằng cái chết tức tưởi của Lão Hạc là đau đớn, song đó cũng chính là cái nhân đạo độc đáo của Nam Cao. Để Lão Hạc chết là cất Lão khỏi xã hội tha hóa lúc bấy giờ, là bảo vệ những phẩm chất cao đẹp nơi người nông dân ấy, để nó không thể bị phá hủy trước ảnh hưởng đương thời. Để lão chết là để gửi gắm độc giả những triết lý nhân sinh về lòng tự trọng đẹp đẽ của con người, là “đói cho sạch rách cho thơm”, là lương thiện, ngay thẳng giữa biến động cuộc đời. Có như vậy, “Lão Hạc” mới bất diệt với thời gian và sống mãi trong lòng bạn đọc, để độc giả đương thời và hậu thế luôn chất vấn tác giả, vì sao lại để lão Hạc phải bán đi cậu Vàng, vì sao lại để lão Hạc chết, tinh thần nhân đạo của Nam Cao ở đâu trong tác phẩm này? Và rồi, người đọc tìm thấy câu trả lời thỏa đáng cho mình dựa trên trải nghiệm văn học và cảm xúc riêng mình. Lão Hạc lựa chọn cái chết trước khi đánh mất nhân tính, trước khi cái ác chiếm hữu linh hồn lão, trước khi lão chấp nhận làm ác để sống, để tồn tại. Sự sáng tạo ấy của Nam Cao có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, nó gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, riết róng vẫy gọi đấu tranh chính chúng ta thay đổi xã hội để cứu lấy những con người cùng khổ, những phận người “sống mòn”, “chết mòn”, bị xã hội phi nhân tước đoạt cả nhân hình lẫn nhân tính. Cuộc đối thoại với chính bản thân mình đã cất tiếng, nó thúc giục ta ráo riết cải tạo cuộc sống, để đất nước này thêm văn minh, giàu đẹp, để không có bất cứ một Lão Hạc nào phải lang bạt, đau khổ và phải tự kết liễu cuộc đời mình để bảo toàn hay chữ “con người”.

Ta còn nhớ năm xưa đại thi hào Nguyễn Du đặt ra câu hỏi, cũng là lời khát khao, rồi 300 năm nữa liệu có ai nhớ thương và đồng cảm với ông qua hình tượng nàng Tiểu Thanh?

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

Ông khát khao tìm được một người đối thoại với mình, hiểu thấu được nỗi lòng mình. Và thật kì diệu, chưa đến 200 năm sau, Tố Hữu đã tìm thấy và đồng cảm với Nguyễn Du, Tố Hữu bày tỏ:

“Tiếng thơ ai động đất trời

Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du

Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày”.

Ta với họ có thể ở những thời đại khác nhau, có những rào cản cách xa nhau, song tìm đến văn chương chúng ta là một, bằng những cuộc đối thoại, giữa tác giả với hình tượng, giữa người sáng tác và người tiếp nhận và chính độc giả tự đối thoại với bản thân mình. Hình tượng văn học bằng sức mạnh của mình đã thực hiện trọn vẹn chức năng “khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật trong truyện, đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình”.

Tuy nhiên, ta hiểu rằng, để có thể vun xới cho “đứa con tinh thần”’ của mình những sức mạnh lớn lao ấy không phải là điều dễ dàng. Hình tượng ấy không chỉ được gửi gắm tầm tư tưởng và tình cảm lớn, mà chúng còn phải được xây dựng công phu với những thủ pháp đẽo gọt kì công tài tình. Tác giả cần khắc họa những hình tượng sống động và đôi khi còn chân thật hơn chính nguyên mẫu ngoài đời thực. Bởi hình tượng là điển hình, là đại diện cho một tầng lớp, một thời đại, thậm chí sự tồn tại của chúng là vĩnh hằng. Hơn ai hết người nghệ sĩ phải sống hết mình, đào sâu vào những góc khuất đời sống để tìm ra sự thật tâm tình, trạng thái sống của thời đại. Người nghệ sĩ không làm công việc của người chép sử, anh thực hiện sứ mệnh của “làm cho người gần người hơn” và “vạch cái xấu, vun cái tốt phần minh” cho xã hội. Làm được điều này thì ánh sáng mà tác phẩm tỏa ra mới được tiếp nhận “biến thành của ta” và sống một cuộc đời mới.

Isago từng cho rằng: “Cuộc sống của ngôn từ lâu dài hơn chính bản thân đời Người”. Sự lâu dài ấy có được phần lớn nhờ vào sự tiếp nhận của người đọc. Văn chương chân chính dù viết về cái gì cũng hướng về con người, bởi thế mới nói “Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Nguyễn Minh Châu). Mỗi thời đại, mỗi tâm hồn sẽ tìm thấy ở tác phẩm lớn những hình tượng nghệ thuật riêng biệt, chúng đa dạng và phong phú bởi cuộc đời là rộng lớn vô cùng. Tất cả dù đến bằng con đường nào thì cũng sẽ gặp nhau ở một điểm: phát lộ những điều đẹp đẽ, khơi dậy sự rung động nơi trái tim và lắng nghe những tiếng nói tri âm. Đó là sức mạnh, là chức năng lớn nhất của văn học mà Trần Đình Sử quan niệm.

“Nền đất ẩm, chiếu manh, trang giấy trắng,

Anh khai sinh bao nhân vật cho đời

Nên anh chết như chuyến đi dài hạn

Bởi họ sống tiếp cho anh đang có mặt giữa muôn người”

(Đào Cảng)

Có lẽ, đó là lí do dù Nam Cao đã không còn nhưng hình tượng Lão Hạc vẫn sống mãi trong tâm trí bạn đọc. Nàng Kiều vẫn sẽ làm lay động bao trái tim và nhỏ lệ bao tâm hồn dù đại thi hào Nguyễn Du đã rời xa cõi tạm mấy thế kỉ qua. Văn chương thấm vào lòng người và bất tử với thời gian, không có biên giới bởi được nhận thức và thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật. Và bằng cách này hay cách khác, người đọc hôm nay sẽ tiếp tục những cuộc đối thoại, để lời của Giáo sư Trần Đình Sử mãi luôn là chân lý đúng đắn về sức mạnh của hình tượng nghệ thuật.

Tham khảo những bài viết liên quan:

Cách lấy điểm sáng tạo trong bài viết Nghị luận văn học

Diễn đạt ấn tượng cho bài viết Nghị luận văn học

Giải thích nhận định Nghị luận văn học trong đề thi Chuyên 2024 - 2025


Mình là Khánh, người sáng lập nghengu.vn – nơi chia sẻ niềm yêu thích với tiếng Nghệ, tiếng Việt và những phương ngữ đa dạng. Mình mong muốn lan toả vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ đến nhiều người hơn. Nếu thấy nội dung hữu ích, bạn có thể ủng hộ bằng cách donate hoặc mua sản phẩm giáo dục qua các liên kết tiếp thị trong bài viết.

Cảm ơn bạn đã đồng hành!

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
https://xemthoitiet.com.vn https://thoitiet24.edu.vn RR88 RR99 RR99 fun88 เข้าระบบ Fun88 nhà cái uy tín kèo nhà cái 5 TOPCLUB NK88 xem bóng đá RR99 88xx Hay88 s8 win678 x88 79king ssc88 Cm88 Cm88 https://kubetics.com CM88 trực tiếp bóng đá xoilac https://open88s.com/ f8bet MAX88 C168 game bài https://keonhacai55.biz/ Ok365 ufabet ufabet Luck8 Sv388 https://xin88.global/ Xoilac Kèo bóng đá Socolive TV Link nbet KJC XX88 Socolive 78WIN KJC KJC ok9 789bet OK9 COM okvip okvip new888 xoso66 Vin777 king88 king88 88VV Xoilac TV Live trực tiếp Cakhia TV Nohu90 Xoilac TV Socolive https://hz88.za.com https://rs88.in.net https://tt8811.net https://789pai.com https://nk88.eu.com https://win678.de.com https://kl999.net https://e8kbet.net/ OPEN88 COM https://mmoo.com.de go88