Literature-studying Blog
Phân tích ‘Đồng chí’ mà liên hệ với mấy bài thơ khác về đề tài anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp thì ủ ui hay suýt soa luôn. Mỗi tội mình cũng không nhớ là trong bài này mình có liên hệ không :)) Mình chỉ đăng thôi chứ chẳng buồn đọc lại đâu, nên mọi người phải tham khảo một cách tỉnh táo nhé :<
Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, hình ảnh người lính mãi mãi là hình ảnh cao quý nhất, đẹp đẽ nhất. Hình tượng người lính đã đi vào lòng người và văn chương với tư thế, tình cảm và phẩm chất cao đẹp. Một trong những tác phẩm ra đời sớm nhất, tiêu biểu và thành công nhất viết về tình cảm của những người lính Cụ Hồ là bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu. Bằng những rung động mới mẻ và sâu lắng, bằng chính sự trải nghiệm của người trong cuộc, qua bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã diễn tả thật sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến.
Trong 7 câu thơ đầu, nhà thơ lý giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng. Chỉ qua hai câu thơ với cấu trúc sóng đôi, đối ứng, tác giả đã nêu rõ thành phần xuất thân của người chiến sĩ:
“Quê hương anh đất mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Điều làm cho mọi người dễ xích lại gần nhau là những câu chuyện quê hương anh và làng tôi thật thắm thiết. Câu thơ gợi nhiều hơn tả, chỉ cho ta biết rằng quê hương anh là vùng “nước mặn đồng chua”. Câu thành ngữ ấy đi vào câu thơ rất tự nhiên, khiến người đọc liên tưởng đến một vùng đồng chiêm trũng ven biển quanh năm úng lụt, cuộc sống người dân gieo neo, cơ cực, khó trông trọt và canh tác. Còn “làng tôi” là một làng nghèo ở vùng trung du đồi núi, đá sỏi cây cằn, đất đai quý hơn vàng bạc. Nơi ấy, con người phải đổi bát mồ hôi lấy bát cơm. Cả hai vùng quê đều nghèo nàn, lam lũ triền miên. Ấy vậy mà lúc xa quê, ai cũng thương cũng nhớ đến quặn lòng để rồi thầm thì tâm sự với người bạn mới. Chính Hữu vốn nặng tình nặng nghĩa với làng quê Việt Nam nên khi nhắc đến, giọng thơ anh xao xuyến, bồi hồi khó tả. Và chính sự tương đồng về cảnh ngộ ấy đã trở thành niềm đồng cảm giai cấp, là cơ sở cho tình đồng chí, đồng đội của người lính. Tình yêu quê hương, gia đình, nghĩa vụ công dân thúc giục họ lên đường chiến đấu. Không hẹn mà nên, những người nông dân ấy gặp nhau tại một điểm, ấy là lòng yêu nước:
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, mặn mà như một lời thăm hỏi. Họ hiểu nhau, thương nhau, tri kỉ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nghèo, người lao động. Nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải do cái nghèo xô đẩy, mà họ về đây đứng trong cùng đội ngũ do họ có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả: chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. “Đôi” là chỉ hai đối tượng đi liền với nhau, nên “đôi người xa lạ” nghĩa là hai người cùng đi với nhau mà lại là xa lạ. Vì thế, ý thơ như được nhấn mạnh thêm về hình ảnh “những phương trời xa cách, những con người “chẳng hẹn quen nhau”. Nhưng khi tham gia kháng chiến, những con người xa lạ ấy đã cùng nhau chiến đấu, cùng chịu đựng gian khổ, chung lưng đấu cật bên nhau. Giống như những anh lính trong bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên:
“Lũ chung tôi bọn người tứ xứ
Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi ‘một, hai’
Súng bắn chưa quen
Quân sự mươi bài
Lòng vẫn cười vui kháng chiến…”
Trong môi trường quân đội, đơn vị thay cho mái ấm gia đình, tình đồng đội thay cho tình máu thịt. Cái xa lạ lần đầu nhanh chóng bị xóa đi. Sát cánh bên nhau chiến đấu, càng ngày họ càng cảm nhận sâu sắc về sự hoà hợp, gắn bó giữa đồng đội cùng chung lí tưởng và hành động:
“Súng bên sung, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”
“Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của người đồng chí. Trong những ngày thiếu thốn, khó khăn, trong những đêm rét lạnh nơi rừng Việt Bắc, những người lính chỉ có chiếc chăn nhỏ không đủ ấm, từ “xa lạ” họ đã trở thành “tri kỉ”, là người bạn tâm giao thân thiết, thấu hiểu nhau. Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc - “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Những câu thơ giản dị mà hết sức sâu sắc, như được chắt lọc từ cuộc sống, từ cuộc đời người lính gian khổ. Bao nhiêu yêu thương được thể hiện qua những hình ảnh vừa gần gũi vừa tình cảm hàm súc ấy. Từ trong tâm khảm họ, bỗng bật thốt lên hai từ “đồng chí”, ngắn gọn mà ngân vang, giản dị mà thiêng liêng. * (phân tích nét độc đáo của câu thơ “Đồng chí” VD: 1 từ, 2 tiếng, tách riêng thành một câu thơ, tạo thành một dòng thơ…)Từ “đồng chí’ với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau, nhấn mạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình cảm mới mẻ này. Đồng chí là cùng chí hướng, cùng mục đích. Và khi họ gọi nhau bằng tiếng “đồng chí” họ không chỉ còn là người nông dân nghèo đói lam lũ, mà họ đã trở thành anh em trong cả một cộng đồng với một lý tưởng cao cả vì đất nước quên thân để tạo nên sự hồi sinh cho quê hương, cho dân tộc. Nhưng trong tình cảm ấy một khi có cái lõi bên trong là “tình tri kỉ” lại được thử thách, được tôi rèn trong gian khổ thì mới thực sự vững bền. Ta thấy được, Chính Hữu đã từng là một người lính, đã trải qua cuộc đời người lính nên câu thơ bình dị mà có sức nặng, sức nặng của tình cảm trìu mến, yêu thương với đồng đội.
Nhưng Chính Hữu đã không dừng lại ở việc biểu hiện những xúc cảm về quá trình hình thành tình đồng chí mà ông còn nói ta về những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí trong mười câu thơ tiếp theo. Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau.
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.
Họ là những người lính gác tình riêng ra đi vì nghĩa lớn, để lại sau lưng mảnh trời quê hương với những băn khoăn, trăn trở. Từ những câu thơ nói về gia cảnh, về cảnh ngộ, ta bắt gặp một sự thay đổi lớn lao trong quan niệm của người chiến sĩ: “Ruộng nương” đã tạm gửi cho “bạn thân cày”, “gian nhà không” giờ để “mặc kệ gió lung lay”. Lên đường đi chiến đấu, người lính chấp nhận sự hi sinh, tạm gạt sang một bên những tính toán riêng tư. Hai chữ “mặc kệ” đã nói lên được cái kiên quyết dứt khoát mạnh mẽ của người ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, khi mục đích đã lựa chọn. Song dù dứt khoát, mạnh mẽ ra đi nhưng những người lính nông dân hiền lành chân thật ấy vẫn nặng lòng với quê hương. Trong bài thơ “Đất nước”, ta bắt gặp điểm tương đồng trong tâm hồn những người lính:
“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
Chính thái độ gồng mình lên ấy lại cho ta hiểu rằng những người lính càng cố gắng kiềm chế tình cảm bao nhiêu thì tình cảm ấy càng trở nên bỏng cháy bấy nhiêu. Nếu không đã chẳng thể cảm nhận được nỗi nhớ nhung của những người nơi quê hương: “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. Hình ảnh thơ hoán dụ mang tính nhân hoá này càng tô đậm sự gắn bó yêu thương của người lính đối với quê nhà, nó giúp người lính diễn tả một cách hồn nhiên và tinh tế tâm hồn mình. “Giếng nước gốc đa” kia nhớ người ra lính hay chính tấm lòng người ra lính không nguôi nhớ quê hương và đã tạo cho giếng nước gốc đa một tâm hồn? Quả thực giữa người chiến sĩ và quê hương anh đã có một mối giao cảm vô cùng sâu sắc đậm đà. Tác giả đã gợi nên hai tâm tình như đang soi rọi vào nhau đến tận cùng. Ba câu thơ với hình ảnh: ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa, hình ảnh nào cũng thân thương, cũng ăm ắp một tình quê, một nỗi nhớ thương vơi đầy. Nhắc tới nỗi nhớ da diết này, Chính Hữu đã nói đến sự hi sinh không mấy dễ dàng của người lính. Tâm tư ấy, nỗi nhớ nhung ấy của “anh” và cũng là của “tôi”, là đồng chí họ thấu hiểu và chia sẻ cùng nhau. Tình đồng chí đã được tiếp thêm sức mạnh bởi tình yêu quê hương đất nước ấy.
Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, sự sẻ chia những gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày…”
Đồng chí là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính. Bằng những hình ảnh tả thực, hình ảnh sóng đôi, tác giả đã tái hiện chân thực những khó khăn thiếu thốn trong buổi đầu kháng chiến: thiếu lương thực, thiếu vũ khí, quân trang, thiếu thuốc men… Là người lính, các anh đã từng trải qua những cơn sốt rét nơi rừng sâu trong hoàn cảnh thiếu thuốc men, lại thêm trang phục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá: “áo rách vai, quần tôi vài mảnh vá, chân không giày…” Tất cả những khó khăn gian khổ được tái hiện bằng những chi tiết hết sức thật, không một chút tô vẽ. Cùng hướng về một lí tưởng, cùng nếm trải sự khắc nghiệt của chiến tranh, người lính chia sẻ cho nhau tình thương yêu ở mức tột cùng. Chi tiết “miệng cười buốt giá” đã ấm lên, sáng lên tình đồng đội và tinh thân lạc quan của người chiến sĩ.
Tình yêu thương của những người đồng chí được thể hiện qua những cử chỉ, hình ảnh gợi cảm và chân thực vô cùng:
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Trong buốt giá gian lao, những bàn tay tìm đến để truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau niềm tin và sức mạnh để vượt qua tất cả, đẩy lùi gian khổ. Những cái nắm tay ấy đã thay cho mọi lời nói. Câu thơ ấm áp trong ngọn lửa tình cảm thân thương! Nhà thơ đã phát hiện rất tinh cái sức mạnh tinh thần ẩn sâu trong trái tim người lính. Sức mạnh tinh thần ấy, trên cơ sở cảm thông và thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau đã tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứ tình cảm thầm lặng nhưng rất đỗi thiêng liêng này. Đọc những câu thơ ấy, ta vừa không khỏi chạnh lòng khi thấu hiểu nhưng gian nan vất vả mà thế hệ cha ông đã từng trải qua vừa trào dâng một niềm kính phục ý chí và bản lĩnh vững vàng của những người lính vệ quốc.
Bài thơ khép lại với bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội,là biểu tượng cao đẹp về cuộc đời người chiến sĩ:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Đây là bức tranh vẽ trong một đêm khuya nơi rừng Việt Bắc, thời tiết thiên nhiên lạnh giá, khắc nghiệt: “rừng hoàn sương muối”. Có ba nhân vật nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo: người lính, khẩu súng và vầng trăng. Những người lính đứng sát bên nhau, tuyền cho nhau hơi ấm, khẩu súng trên vai của họ hướng lên bầu trời, nơi trăng xuống thấp như treo trên đầu ngọn súng.
Đó là bức tranh gợi về thời khắc gian khổ nhất: “ chờ giặc tới”. Đoạn thơ có nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng, đặc biệt là câu thơ cuối cùng: “Đầu súng trăng treo”. Ấy là hình ảnh vừa thực, vừa lãng mạn. Nó vốn thực vì được tác giả nhận thấy trong những đêm phục kích. Ban đầu, ông viết: “Đầu súng mảnh trăng treo”, nhưng sau đó, ông lược đi một từ nên câu chỉ còn 4 chữ, chia làm 2 vế cân đối. Câu thơ mang nhịp điệu như nhịp lắc của thứ gì lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát mênh mông của trời đất, thứ rất xa chứ không buộc chặt. “Súng” và “trăng” là hình ảnh có giá trị, gợi ra nhiều liên tưởng phong phú cho người đọc về sự kết hợp giữa gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ, chiến tranh và hòa bình… Còn đối với Chính Hữu, hình ảnh thơ này thể hiện vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, lạc quan, yêu đời của những người lính trước khó khăn gian khổ trong thời khắc chờ giặc. Thực ra, tình đồng chí đồng đội đã tiếp cho họ sức mạnh, giúp người lính bình thản để có thể tận hưởng vẻ đẹp của vầng trăng treo trên đầu ngọn súng. Chất lãng mạn và chất hiện thực đã bổ sung hài hòa cho cuộc đời người lính cách mạng. Vì thế, có thể coi câu thơ kết hợp hài hòa giữa chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn, là biểu tượng đẹp cho thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị lại vừa mang vẻ đẹp cao cả thiêng liêng, thơ mộng. Cấu trúc song hành và đối xứng xuyên suốt bài thơ làm hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ rất trẻ như đang thủ thỉ, tâm tình, làm nổi bật chủ đề tư tưởng: Tình đồng chí gắn bó keo sơn. Chân dung người lính vệ quốc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp hiện lên thật đẹp đẽ qua những vần thơ mộc mạc, chân tình mà gợi nhiều suy tưởng. Với những đặc điểm đó, bài thơ xứng đáng là một trong những tác phẩm thi ca xuất sắc về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng của văn học Việt Nam.
❤ by_banhmithiu_
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Phân tích truyện ngắn Lặng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
-
100+ bài thơ chúc Tết hay, ngắn gọn và ý nghĩa nhất 2026
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị
-
Viết bài văn thuyết minh về tác phẩm Chí Phèo lớp 11
-

Những bài văn nlxh đạt giải quốc gia pdf
-
Top 20 Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện lớp 5 (điểm cao)
-
Mở bài chung nghị luận xã hội cho mọi đề hay nhất (35+ mẫu)
-

Tổng hợp các tác phẩm Nguyễn Trãi hay tiêu biểu
-
Tác giả Nguyễn Du - Cuộc đời, Sự nghiệp, Phong cách sáng tác
-
Top 30 Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học lớp 9 (học sinh giỏi)
-
Top 50 bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (hay nhất)



