Phân tích bài thơ Nói với con tác giả Y Phương – HOCMAI

Nhằm mục đích giúp học sinh lớp 9 nắm chắc kiến thức môn Ngữ văn lớp 9 để chuẩn bị tốt cho kì thi tuyển sinh sắp tới, HOCMAI đã tổng hợp phân tích toàn bộ khái quát các tác phẩm văn học ôn thi vào lớp 10. Trong bài viết này, cùng phân tích chi tiết tác phẩm Nói với con của tác giả Y Phương
I. Thông tin về tác giả - tác phẩm
1. Tác giả: Y Phương
- Tên thật: Hứa Vĩnh Sước
- Sinh năm 1948, mất ngày năm 2022
- Quê quán: tại làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (ông là người dân tộc Tày)
- Ông là một trong những gương mặt nhà thơ tiêu biểu thuộc lớp các nhà thơ xuất thân từ dân tộc miền núi
- Y Phương có niềm đam mê dành cho văn chương từ rất sớm, ham mê đọc sách ngay từ nhỏ
- Ngoài ra, Y Phương đã trải qua cuộc đời người lính đặc công từ năm 1968 và con đường đến với thơ ca của ông cũng rất tình cờ và ngẫu nhiên
Cảm hứng trong sáng tác và phong cách nghệ thuật:
- Y Phương luôn đi tìm cái mới, cái độc đáo trong những sáng tác của mình, tuy nhiên vẫn giữ cho mình khuôn phép riêng, ngay cả trong đời sống thực.
- Người đọc có thể dễ dàng tìm thấy ở Y Phương một tiếng nói chung, đồng cảm, bởi lẽ cuộc sống đời thường và trong thơ của ông chính là một
- Các tác phẩm thơ của Y Phương được lấy chất liệu chủ yếu từ gia đình, quê hương và đất nước
- Phong cách sáng tác: Ngôn ngữ thơ gần gũi, giản dị, hồn nhiên, mang đặc trưng lối tư duy của người vùng cao. Hình ảnh thơ được tác giả vận dụng phong phú, mang giá trị biểu tượng cao;…
- Văn chương nghệ thuật với Y Phương có thể coi là một trò chơi ngôn ngữ nhằm thỏa mãn cho chính bản thân nhà thơ và cho người đọc
Các tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Y Phương:
Người của núi” (1982); Tháng Giêng - tháng Giêng một vòng dao quắm (2009); Nói với con (1980); Người núi Hoa (1982); Tiếng hát tháng giêng (1986); Lời chúc (1991); Thất tàng lồm (Ngược gió, 2006); Hoa quả chuông (Bjooc ăn lình); Đò trăng (trường ca),…
2. Tác phẩm Nói với con
a. Hoàn cảnh ra đời “Nói với con”
- Bài thơ được in trong tập thơ “Thơ Việt Nam”
- Bài thơ “Nói với con” được sáng tác vào năm 1980, 5 năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là giai đoạn mà đời sống của nhân dân nói chung gặp rất nhiều khó khăn, cả về vật chất lẫn tinh thần. Trong tâm sự của Y Phương, ông từng nói rằng: “Đó là thời điểm đất nước ta gặp vô vàn khó khăn… Bài thơ là lời tâm sự của tôi với đứa con gái đầu lòng.”
- Ngoài là lời tâm sự với con, tác phẩm còn là lời tâm sự với chính mình. Y phương giải thích: lý do để ông ra sáng tác bài thơ chính là khi ông không biết lấy gì để vịn, để tin. Khi cả xã hội lúc bấy giờ đều đang hối hả, gấp gáp kiếm tìm tiền bạc. Vì vậy, muốn sống đàng hoàng như một con người, cần phải bám vào nền tảng văn hóa, tin vào những giá trị tích cực, vĩnh cửu của văn hóa. Qua bài thơ ấy, Y Phương muốn gửi thông điệp rằng chúng ta phải vượt qua sự ngặt nghèo, đói khổ ấy bằng văn hóa.” Bài thơ đối với Y Phương như một lời tâm sự với chính mình, mục đích là để động viên bản thân, đồng thời để lại lời nhắc nhở cho các thế hệ mai sau.
b. Ý nghĩa nhan đề “Nói với con”
Nhan đề “Nói với con” ngắn gọn, nhưng đã khái quát lên nội dung chính của bài thơ đó là lời trò chuyện, tâm sự của người cha với đứa con của mình. Qua đó, tác giả muốn nhắn nhủ tới thế hệ sau cần tiếp nối, phát huy và gìn giữ truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước. Nhắc nhở con nhìn vào cội nguồn mà sống sao cho xứng đáng
c. Bố cục nội dung
Bố cục bài thơ được chia thành 2 phần với nội dung cụ thể như sau:
- Phần một - Đoạn 1: Nhắc nhở về cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng con
- Phần hai - Đoạn 2: Đề cao những phẩm chất cao quý của người đồng mình và mong con tiếp nối truyền thống cao đẹp đó
II. Phân tích bài thơ Nói với con
1. Phân tích khổ thơ đầu bài Nói với con: Nhắc nhở về cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng con
“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.”
Trong những lời tâm tình đầu tiên, tác giả đã nhắc về cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng con:
“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười.”
- Sử dụng hệ thống từ ngữ giàu giá trị tạo hình như “chân phải”, “chân trái”, “một bước”, “hai bước” tác giả đã giúp người đọc liên tưởng đến hình ảnh một đứa trẻ đang tập đi những bước chân chập chững đầu tiên trong sự vui mừng, hân hoan của cha mẹ
Sử dụng thủ pháp liệt kê lần đầu qua hình ảnh “tiếng nói”, “tiếng cười” góp phần:
- Liên tưởng đến hình ảnh em bé đang ở tuổi bi bô tập nói, tập cười
- Tạo ra không khí đầm ấm của một gia đình hòa thuận, luôn tràn ngập hạnh phúc, tràn đầy tiếng nói, tiếng cười
Sử dụng thủ pháp liệt kê lần hai qua hình ảnh “tới cha”, “tới mẹ” đã giúp tác giả:
- Tái hiện hình ảnh em bé sà vào lòng mẹ, níu lấy tay cha khi đang chập chững tập đi
- Thể hiện tình cảm của cha mẹ, luôn dõi ánh mắt theo con và luôn dang rộng vòng tay đón đợi con bước đến
- Sử dụng nhịp thơ 2/3 với cấu trúc đối xứng đã tạo nên không khí vui tươi, bình yên, êm đềm của mái ấm gia đình đầm ấm, hạnh phúc.
=> 4 câu thơ đầu với lời thơ giản dị như một lời tâm tình thủ thỉ mà Y Phương muốn nhắn nhủ tới con, rằng gia đình chính là cội nguồn, là nơi sinh thành và nuôi dưỡng con từ những bước chân đầu tiên. Chính vì vậy, trên hành trình vạn dặm của con về sau, con không được phép quên công lao dưỡng dục của cha mẹ
Song song với gia đình là quê hương, là nơi con sinh ra, nơi gia đình con thuộc về. Nhờ có quê hương con mới khôn lớn và trưởng thành như ngày hôm nay:
“Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng.”
- Tác giả sử dụng cụm từ “người đồng mình” để thể hiện lối nói đặc trưng của người vùng cao về quê hương hay người đồng hương cho thấy ngay cả trong thơ, tác giả vẫn đem đến nét đặc trưng riêng của dân tộc mình
- Cách giới thiệu “người đồng mình” đi liền với ngôn ngữ hô gọi “con ơi” đã giúp lời tâm sự giữa hai cha con trở nên thật trìu mến và thân thương
Kết hợp ngôn ngữ thân thuộc và hệ thống hình ảnh đã gợi ra nhiều ý nghĩa:
- “Đan lờ cài nan hoa” là hình ảnh tả thực công cụ lao động thô sơ, đã được “người đồng mình” trang trí và trở nên đẹp đẽ. Chi tiết này đã thể hiện sự cần cù, tài hoa và sáng tạo của người dân nơi quê hương tác giả. Họ có thể khiến cho những nan nứa, nan tre đơn sơ, thô mộc trở thành những “nan hoa” trang trí.
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Phân tích truyện ngắn Lặng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
-
100+ bài thơ chúc Tết hay, ngắn gọn và ý nghĩa nhất 2026
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị
-
Top 20 Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện lớp 5 (điểm cao)
-
Viết bài văn thuyết minh về tác phẩm Chí Phèo lớp 11
-

Những bài văn nlxh đạt giải quốc gia pdf
-

Tổng hợp các tác phẩm Nguyễn Trãi hay tiêu biểu
-
Mở bài chung nghị luận xã hội cho mọi đề hay nhất (35+ mẫu)
-
Top 30 Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học lớp 9 (học sinh giỏi)
-
Tác giả Nguyễn Du - Cuộc đời, Sự nghiệp, Phong cách sáng tác
-
Top 50 bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (hay nhất)





