Lý luận văn học về nhan đề tác phẩm
Bạn đã bao giờ bị thu hút bởi tên của một bài thơ ngay cả trước khi kịp đọc dòng đầu tiên? Chỉ một vài chữ thôi, nhưng nhan đề có thể khơi gợi cả một miền ký ức, một cung bậc cảm xúc, thậm chí hé mở linh hồn của cả một tác phẩm.
Trong quá trình phân tích tác phẩm văn học, đặc biệt là các tác phẩm thơ, việc lý giải nhan đề là một bước quan trọng giúp người đọc giải mã lớp “mật mã nghệ thuật” mà tác giả gửi gắm. Bởi, đây thường là điểm kết tinh của tư tưởng, cảm xúc và hình tượng trung tâm; thể hiện lựa chọn thẩm mỹ, dụng ý nghệ thuật của thi sĩ. Việc hiểu đúng và sâu sắc nhan đề sẽ mở ra hướng tiếp cận toàn diện hơn đối với thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Hôm nay, Thích Văn học sẽ cùng bạn khám phá “tín hiệu nghệ thuật đặc biệt” này nhé!
1. Nhan đề là gì?
- Nhan đề chính là tên gọi của văn bản - yếu tố đầu tiên mà người đọc tiếp xúc khi đến với tác phẩm. Đây là một tín hiệu nghệ thuật có chủ đích, một cánh cửa, hay đúng hơn là “một ô cửa sổ” nhìn ra thế giới nghệ thuật mà thi sĩ đã tạo nên để đón chào độc giả.
- Nhan đề không đơn thuần chỉ là một cái tên - một cách định danh để khu biệt tác phẩm của tác giả này với tác phẩm của tác giả khác, mà còn là một bộ phận có kết nối chặt chẽ với hồn cốt của thế giới nghệ thuật.
2. Chức năng của nhan đề
Nhan đề đảm nhiệm 3 chức năng chính:
- Chức năng thông tin: Nhan đề giúp người đọc nhận biết được “tên riêng” của tác phẩm, thuận tiện trong quá trình ghi nhớ và nhắc tới
- Chức năng gợi mở nội dung: Nhan đề hé mở định hướng về đề tài, chủ đề, tư tưởng, nội dung chính,… của tác phẩm
- Chức năng tạo ấn tượng nghệ thuật: Nhan đề giúp khơi gợi hứng thú, trí tưởng tượng, liên tưởng của người đọc; từ đó hướng người đọc vào thế giới nghệ thuật bên trong của tác phẩm.
3. Mối quan hệ giữa nhan đề và thế giới nghệ thuật của tác phẩm
Nhan đề của một tác phẩm thơ có thể là vừa điểm khởi đầu, vừa là sợi dây ngầm xuyên suốt nối liền tứ thơ. Với nhiều nhà thơ, nhan đề là cái ý tưởng, ý tứ lóe lên ban đầu nhưng có sức mạnh thôi thúc thi sĩ phải cầm bút. Với một số khác, nhan đề lại là sự đúc rút, kết tinh giá trị khi đã hoàn thiện cả bài thơ.
Ví dụ: Nhan đề bài thơ “Vọng nguyệt” (Hồ Chí Minh): “Vọng nguyệt” nghĩa là ngắm trăng. Ý tưởng “ngắm trăng” không chỉ là hành động thực tế mà còn là một phản ứng tinh thần cho thấy tâm hồn thi sĩ vẫn luôn hướng tới cái đẹp, sự tự do, thanh cao dẫu ở trong chốn lao tù. Chính hình ảnh ánh trăng tỏa sáng trên bầu trời đã khơi nguồn cảm hứng, thôi thúc nhà thơ cầm bút, để rồi cả bài thơ mở ra trong khoảnh khắc tĩnh lặng giữa đêm, với ánh trăng sáng và một cái nhìn đầy tâm tình hướng lên bầu trời. Qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, phong thái ung dung, bản lĩnh và tinh thần lạc quan cách mạng của nhà thơ - người chiến sĩ
4. Các cách đặt nhan đề
Mỗi nhà thơ có một cách đặt nhan đề riêng, thể hiện những quan điểm thẩm mỹ riêng. Nhưng tựu trung lại, ta thấy có 2 cách đặt nhan đề thường thấy trong tác phẩm trữ tình:
- Không đặt nhan đề (hoặc ghi “vô đề): Đây là cách tác giả khước từ hoàn toàn việc giới thiệu tác phẩm với người đọc, đồng thời cũng là một lựa chọn thẩm mỹ của nhà thơ khi mở ra một khoảng trống diễn giải để người đọc được tự do tiếp nhận, tự do định danh.
- Đặt đầu đề gợi ý, gợi cảm, gợi cảnh: Đây là lối đặt nhan đề phổ biến hơn cả trong thơ ca. Nhan đề này có thể đề cập trực tiếp đến nội dung/hình ảnh chính hoặc gián tiếp gợi tả thông qua việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật độc đáo. Khi ấy, nhan đề không chỉ là “cái tên” mà còn là lời mời nhập cuộc vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm và thường mang hai lớp nghĩa: nghĩa cụ thể và nghĩa biểu tượng.
5. Ví dụ minh họa
Cách 1: Bài thơ vô đề vẫn thường được coi là lời đề từ trong tập “Nhật kí trong tù” của chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao”
(Theo nguồn thivien.net)
Việc không đặt nhan đề giúp nội dung bài thơ vượt ra khỏi khuôn khổ của một đề tài cụ thể, khiến tác phẩm có thể được đọc và cảm nhận như một thông điệp chung về ý chí, nghị lực của con người trước nghịch cảnh. Mặt khác, “Nhật kí trong tù” là tập nhật kí được viết dưới hình thức thơ, ghi lại những suy nghĩ và cảm xúc tức thời, nên sự xuất hiện của những bài thơ không đề tạo nên sự liền mạch và hòa nhập tự nhiên trong toàn bộ mạch chung của tác phẩm.
Cách 2: Nhan đề bài thơ “Bếp lửa” - Bằng Việt:
Bếp lửa là một hình ảnh cụ thể, quen thuộc với đời sống nông thôn Việt Nam. Đó là nơi quây quần sum họp của gia đình, nơi bàn tay bà kiên nhẫn nhóm lửa mỗi sớm mai. Trong bài thơ, hình ảnh ấy trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, tượng trưng cho tình bà ấm áp, cho sự bền bỉ, tấm lòng chắt chiu yêu thương và cả ngọn lửa niềm tin, nghị lực mà bà đã truyền cho cháu trong những năm tháng khó nhọc. Chỉ với hai chữ giản dị, nhan đề đã mở ra cả một không gian của kí ức và tình cảm, đồng thời gửi gắm giá trị nhân văn sâu lắng về lòng biết ơn và tình cảm gia đình.
7. “Công thức” lý giải/nêu ý nghĩa nhan đề tác phẩm
Bước 1: Nhận diện cách đặt nhan đề (Nhan đề dài hay ngắn? Có sử dụng biện pháp nghệ thuật nào đặc biệt không?…).
Bước 2: Giải nghĩa nhan đề theo nghĩa đen/nghĩa tường minh.
Bước 3: Phân tích nhan đề đặt trong mối liên hệ với nội dung chính/hình ảnh trung tâm, từ đó chỉ ra giá trị biểu tượng/nghĩa hàm ẩn
Bước 4: Khẳng định vai trò của nhan đề trong việc thể hiện chủ đề/nội dung/tư tưởng/thông điệp của tác phẩm
Ví dụ minh họa
Nhan đề bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” - Thanh Hải:
- Đây là cách đặt nhan đề vừa mộc mạc, giản dị vừa giàu tính biểu tượng. Tính từ “nho nhỏ” được tác giả sử dụng giúp cụ thể hóa, hữu hình hóa hình tượng “mùa xuân” - vốn là một khái niệm trừu tượng, không có hình khối
- Trước hết, “mùa xuân nho nhỏ” chính là mùa xuân của đất trời, của tự nhiên, là một phần trong chu trình tuần hoàn của thời gian.
- Trong bài thơ, “mùa xuân” hình ảnh ẩn dụ độc đáo biểu trưng cho những mong muốn, lý tưởng, khát vọng được cống hiến tất cả những gì đẹp đẽ, tinh túy nhất cho cuộc đời, cho quê hương, đất nước của nhà thơ Thanh Hải. Tác giả khiêm nhường chỉ nhận là một mùa xuân “nho nhỏ” góp phần vào mùa xuân to lớn của đất nước, của cuộc đời chung.
- Thông qua nhan đề này, nhà thơ không chỉ thể hiện tình yêu và lời ngợi ca vẻ đẹp của tự nhiên, con người, mà còn gửi gắm lời kêu gọi về một sống lối sống khiêm nhường, chan hòa trong mối quan hệ chung - riêng, có khát vọng và lý tưởng sống cống hiến chân thành, mạnh mẽ.
Trạm văn giới thiệu thêm với bạn một vài nhận định thú vị về nhan đề
- Nhan đề có thể đóng vai trò như một điểm khởi đầu cho người đọc bước vào một tác phẩm thơ, cung cấp một cái nhìn thoáng qua về những gì sắp diễn ra theo một cách quen thuộc (Anne Bishton)
- Tên bài thơ thường chứa đựng tứ thơ của toàn bài. Nó đảm nhiệm vai trò tâm điểm của vòng tròn đồng tâm, từ đó cảm xúc tỏa ra trở về hội tụ. Nó “hướng dẫn” người đọc trong quá trình lĩnh hội tác phẩm. Nó để lại cho người đọc những rung cảm và suy nghĩ sâu sắc (GS. Đinh Trọng Lạc)
- Nhan đề tác phẩm là cửa sổ nhìn thế giới do nghệ sĩ mở ra, là “chìa khóa nghệ thuật” giúp người đọc mở ra cánh cửa chìm của tác phẩm (Thùy Dương)
Tham khảo bài viết khác tại đây:
Những nhận định văn học đặc sắc về Thơ
Nhận định văn học về Chức năng văn học
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Nhân vô thập toàn là gì? Hiểu đúng về câu nói hay của người xưa
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Viết trẻ trung hay trẻ chung mới đúng? Mẹo phân biệt trung và chung
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị




