Literature-studying Blog
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, có rất ít tác giả viết về người vợ tha thiết như Trần Tế Xương. Có chăng, các tác giả chỉ viết khi vợ đã mất để ghi nhớ nỗi vất vả của họ trong cuộc đời làm người. Nếu như Nguyễn Khuyến khóc thương đầy xúc động khi viếng vợ với bài “Khóc vợ”, thì Tú Xương lại không đợi đến khi vợ mình nhắm mắt xuôi tay mới bày tỏ. Là người có tài nhưng con đường khoa cử lận đận, ngày ngày chăm lo đèn sách, không giúp được nhiều cho vợ con, nên ông đã luôn ngợi ca và thi ca hóa công lao của bà Tú trong rất nhiều tác phẩm, mà tiêu biểu hơn cả là bài thơ “Thương vợ”. [Trích]
Cuộc đời Trần Tế Xương nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan. Người ta thấy trong thơ ông là tiếng nói đả kích quyết liệt vào cái xã hội thực dân nửa phong kiến mục ruỗng và tàn bại. Tuy nó không đậm như Nguyễn Khuyến, không cay như Ðồ Chiểu, nhưng lại hết sức thiết tha, bởi thơ của ông luôn đi từ cõi tâm mà tỏa ra hai nhánh là trào phúng và trữ tình với phong cách riêng. Một nét tiêu biểu không thể thiếu trong thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng, đặc biệt là đối với người phụ nữ. “Thương vợ” của Tú Xương là một bài thơ đặc sắc viết về đề tài này.
Mở đầu bài thơ, Tú Xương ghi lại một cách chân thực công việc làm ăn và gánh nặng gia đình mà bà Tú phải đảm đương:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Thời gian bà Tú phải làm việc là “quanh năm” - khoảng thời gian liên tục, ngày nối ngày, tháng tiếp tháng, đầu tắt mặt tối, không quản nắng mưa, dù ốm đau hay khỏe mạnh. Bà làm giữa không gian “mom sông”, nơi phần đất nhô ra phía lòng sông, dễ sụp lở và đầy bất trắc, hiểm nguy. Thời gian dài rộng và không gian nhỏ chênh vênh tuy tương phản nhau, nhưng tương hợp trong việc khái quát công việc làm ăn vất vả của bà Tú. Bà bươn chải, nhuốm màu nắng mưa trên dòng đời tấp nập để thực hiện thiên chức cao quý của người phụ nữ:
“Nuôi đủ năm con với một chồng”.
Tú Xương đã viết câu thơ với sự hóm hỉnh khi cân đếm mình và năm con trên chiếc đòn cân số phận. Hai mươi mấy năm, thi không đỗ đạt, ông chê cuộc đời nhiễu nhương, giả trá nhưng cũng không thể vượt lên cái nghiệp khoa cử.
“Ông nghè ông thám vô mây khói
Đứng lại văn chương một tú tài.” (“Đọc thơ Tú Xương” - Xuân Diệu)
Bởi thế, ông mạnh dạn tự hạ mình, đặt mình phía sau các con, như một gánh nặng không đáng có, để tri ân sâu sắc với người vợ đang gồng mình lên để gánh chịu.
Đến những câu thơ thực, người đọc càng thấm thía sự cơ cực mà tảo tần trong cuộc đời bà Tú qua ngòi bút mang đầy nỗi xót xa:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.
Cánh cò vốn là hiện thân của những người phụ nữ càn mẫn, chăm chỉ, giàu đức hi sinh trong những lời ca dao tha thiết, nay lại càng thiết tha hơn khi diễn tả bóng dáng còm cỏi, lầm lũi của bà Tú. Bằng lối đảo ngữ được sử dụng khéo léo, tác giả nhấn mạnh những gian truân trên đường mưu sinh của vợ - phải nhẫn nhục, hi sinh, dấn thân vào con đường buôn bán. Nếu như “khi quãng vắng” gợi ra không gian và thời gian heo hút, rợn ngợp, thì “buổi đò đông” gợi cảnh chen chúc, lời qua tiếng lại, ồn ã và cực nhọc của người buôn bán nhỏ bên sông. Buổi đò đông “eo sèo” như tiếng nước tan, như dòng đời đang tàn rã, từ láy “eo sèo” còn gợi âm thanh đìu hiu khiến lòng người não nề, buồn thảm khôn cùng. Hai câu thực đối nhau về ngữ nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật nỗi cực nhọc của bà Tú.
Như một lời lý giải cho sự nhẫn nhịn, hi sinh của vợ mình, Tú Xương đã viết nên hai câu thơ tựa một lời tâm sự của bà Tú:
“Một duyên hai nợ, âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Cái “duyên nợ” trong ca dao xưa được Tú Xương tài tình tách thành “một duyên hai nợ”, gợi ra sự ngăn cách, không gắn bó, cũng như bà Tú chỉ có thể “buôn bán ở mom sông một mình” mà ông Tú không còn cách nào đỡ đần dù chỉ một phần. Họ đến với nhau bởi cái duyên, nhưng rốt cuộc lại trở thành cái “nợ”, “một duyên” nhưng lại có đến “hai nợ”. Câu thơ chứa chan cái ngậm ngùi cho cuộc hôn nhân “duyên thì ít mà nợ thì nhiều”. Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một … hai… năm… mười…” như tạc khắc tỉ mỉ về hình ảnh một người phụ nữ chịu thương chịu khó vì sự ấm no hạnh phúc của chồng con và gia đình. “Âu đành phận” là chấp nhận cái số đời đã an bài, “dám quản công” là nét đẹp nhân cách, nét đẹp trái tim người mẹ, người vợ đảm đang mà thầm lặng.
Kết thúc bài thơ, niềm ấm ức dường như dâng trào đến đỉnh điểm, khiến cho ông thốt nên lời oán trách:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Ngôn ngữ thơ chuyển sang dòng trào lộng, hóm hỉnh, dân dã mà sâu cay. Ngỡ rằng Tú Xương trách ai, thì ra ông chửi rủa thói đời bạc bẽo trong xã hội mà ông đang sống. Tác giả còn ông trách bản thân mình là một ông chồng “dài lưng tốn vải”, bạc bẽo, vô tích sự, khiến vợ một mình cơ cực từng ngày. Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đây buồn thương. Đó là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, đúng như lời thơ ca ngợi đủ sức hãnh diện của Nguyễn Khuyến về cái tâm của Tú Xương ở trên đời:
“Kìa ai chín suối xương không nát
Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn.”
Trong tác phẩm “Thương vợ”, Tú xương đã vận dụng sáng tạo những hình ảnh, ngôn ngữ dân gian. Lời thơ mộc mạc, đậm phong vị ca dao, phép đảo ngữ được sử dụng tài tình. Bài thơ không chỉ là tình cảm chân thành của tác giả đối với vợ mình, không chi là thái độ trào lộng về sự vô tích sự của mình, mà nó còn là lời tri ân đối với biết bao người phụ nữ Việt Nam đã một lòng vì chồng con mà tảo tần, thủy chung, son sắc. Đằng sau những dòng thơ tự trào của “Thương vợ”, ta còn thấy một trái tim nóng rẫy tình yêu, như có nước mắt chảy nơi đầu ngọn bút. Bất lực vì không thể giúp đỡ vợ bằng những hành động cụ thể, Tú Xương đã gửi gắm tất cả tâm sự qua trang thơ hai mặt phẳng. Nhờ thế, Trần Tế Xương đã thực sự góp vào kho tàng văn học Việt Nam một kiệt tác mà có lẽ đến ngàn đời sau vẫn đủ sức lay động trái tim độc giả.
❤ _banhmithiu
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Nhân vô thập toàn là gì? Hiểu đúng về câu nói hay của người xưa
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Viết trẻ trung hay trẻ chung mới đúng? Mẹo phân biệt trung và chung
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị

