[Tóm tắt & Review sách] “Số Đỏ”: Khi Tiểu Thuyết Là Hiện Thực Trần Trụi Ở Đời - YBOX
![[Tóm tắt & Review sách] “Số Đỏ”: Khi Tiểu Thuyết Là Hiện Thực Trần Trụi Ở Đời - YBOX](http://cdn.nghengu.vn/wp-content/uploads/2026/01/tom-tat-tieu-thuyet-so-do.png)
“Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết thực sự là ở đời… Các ông muốn theo tiểu thuyết tùy thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì cũng đúng sự thực.” Đó chính là những lời lẽ đanh thép trong cuộc “văn chiến” giữa nhà văn, nhà báo Vũ Trọng Phụng và các nhà văn theo khuynh hướng chủ nghĩa lãng mạn của Tự lực văn đoàn, và cũng chính là tôn chỉ mà một đời văn ngắn ngủi của Vũ Trọng Phụng đã dốc lòng theo đuổi. Ngòi bút châm biếm sâu cay của ông giống như con dao lách sâu vào những mầm mống bệnh tật của xã hội đương thời, càng trào phúng bao nhiêu càng đau đớn bấy nhiêu. Và “Số Đỏ” là một tác phẩm như thế, một thiên tiểu thuyết vẽ nên toàn bộ bức tranh của một xã hội Âu hóa rởm đời đã làm nên tên tuổi của ”ông vua phóng sự Bắc Kỳ”.
Tác giả
Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939) quê gốc ở Hưng Yên nhưng ông sinh ra, lớn lên và mất tại Hà Nội. Cha ông là Vũ Văn Lân, làm thợ điện, mất khi Phụng mới được 7 tháng, mẹ ông là Phạm Thị Khách, goá chồng mới 24 tuổi, ở vậy nuôi con và mẹ chồng.
Vũ Trọng Phụng có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ, biết đánh đàn, soạn nhạc, và làm thơ. Học xong Cao đẳng tiểu học, 16 tuổi, thi vào trường sư phạm không đỗ, phải kiếm việc, làm thư ký cho nhà hàng Gô Đa, rồi nhà in Viễn Đông trong 2 năm. Từ 18 tuổi, chuyển hẳn sang viết văn, làm báo, còn có các bút hiệu khác là Thiên Hư, Phụng Hoàng… Trong chín năm từ 1930 đến 1939, Vũ Trọng Phụng đã cộng tác với nhiều tờ báo như Hà thành ngọ báo, Nhật tân, Hải Phòng tuần báo, Công dân, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà nội báo, Tương lai, Tiểu thuyết thứ năm, Sông Hương, Đông dương tạp chí, Tao đàn, v.v… và viết đủ mọi thể loại.
Năm 1937 lập gia đình với Vũ Mỵ Lương, sinh được một bé gái, tên là Mỵ Hằng. Vũ Trọng Phụng bị lao, nhưng vẫn dốc hết sinh lực ra viết đến hơi thở cuối cùng. Xuất hiện trên văn đàn năm 1930, năm sau, đã nổi tiếng với vở kịch “Không một tiếng vang”, và hai năm sau, qua những phóng sự như “Cạm bẫy người” (1933), “Kỹ nghệ lấy Tây” (1934), Vũ Trọng Phụng trở thành ngòi bút phóng sự nổi tiếng nhất đất Bắc.
Năm 1936, xuất bản bốn cuốn tiểu thuyết: “Giông tố”, “Số đỏ”, “Vỡ đê”, và “Làm đĩ”, gây xôn xao dư luận. Bệnh tật và làm việc quá sức, Vũ Trọng Phụng mất ngày 13/10/1939 tại Hà Nội, ở tuổi 27. Với sức sáng tác sung mãn lạ kỳ, trong 9 năm cầm bút Vũ Trọng Phụng để lại trên dưới 30 truyện ngắn, 9 cuốn tiểu thuyết, 8 thiên phóng sự, 6 vở kịch… Phần lớn là những tác phẩm có giá trị.
Sinh cùng năm với Hàn Mặc Tử và mất trước Hàn Mặc Tử một năm, Vũ Trọng Phụng cùng với Hàn Mặc Tử và Bích Khê, là ba thiên tài mệnh yểu của văn học Việt Nam trong thế kỷ XX. Ông là một trong những khuôn mặt độc đáo nhất trên văn đàn Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám, văn chương của ông đối lập hoàn toàn với văn chương của nhóm Tự lực văn đoàn và cũng cực kỳ khác biệt so với các cây bút hiện thực phê phán cùng thời như Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố. Với giọng văn trào phúng châm biếm xã hội của mình, ông được ví như “Balzac của Việt Nam”. Bằng những kiệt tác vượt thời gian mà ông để lại cho hậu thế, bằng cá tính sáng tạo độc đáo, ông thực sự là một thư ký trung thành của thời đại, đào sâu và mổ xẻ những mặt trái thối nát của xã hội đương thời. Ngòi bút tả chân của ông phê phán sâu sắc thói sống đồi bại của giới thượng lưu, những tấn bi hài kịch cứ thế lần lượt hiện ra, vạch trần mọi thói hư tật xấu, giả nhân giả nghĩa, trưởng giả học làm sang của đám thực dân, địa chủ, quan lại,... Lối viết của “ông vua phóng sự đất Bắc” thành thật và sống sượng, ông chẳng ngại ngần gì mà ghi lại trọn vẹn những thô bỉ, hủ lậu nơi góc cùng ngõ hẻm của con người, nhưng nơi tiền gian bạc lận, đĩ điếm ma cô, nghiện ngập. Dẫu cho nhiều ý kiến trái chiều cho rằng văn chương của Vũ Trọng Phụng quá đỗi tiêu cực, xấu xí nhưng chúng ta không thể phủ nhận đó là sự thật ở đời, là hiện thực mà chúng ta không thể tránh né. Không còn chút ảo tưởng nào về sự tuyệt đẹp của nhân phẩm con người, cũng không có ánh sáng thiện lương le lói đằng sau bộ mặt gớm ghiếc, tất cả đều chân thật đến mức ghê sợ - sự thật luôn là con quái vật mà người đời muốn vùi sâu dưới cái giếng, nhưng tất cả đều được ngòi bút hóm hỉnh mà trào phúng sâu cay của nhà văn đem lên sân khấu đại hài kịch để muôn đời cùng cười và cùng ngẫm về những vấn đề sâu xa đằng sau đó.
![[Tóm tắt & Review sách] “Số Đỏ”: Khi Tiểu Thuyết Là Hiện Thực Trần Trụi Ở Đời - YBOX](http://cdn.nghengu.vn/wp-content/uploads/2026/01/tom-tat-tieu-thuyet-so-do.png)
“...ông Phụng tuy chết, mười mấy tác phẩm của ông vẫn còn sống. Thế cũng là thọ.” Chính người bạn thân chí tình Ngô Tất Tố của nhà văn đã nói như thế, đủ để thấy sức sống mãnh liệt và những giá trị của các tác phẩm ông để lại đã vượt qua những quy luật băng hoại và đào thải của thời gian để sống và lôi cuốn trái tim nhiều thế hệ độc giả đến tận ngày hôm nay. Những “Làm đĩ”, “Giông tố”, “Số đỏ”, “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Lục xì”, “Cơm thầy cơm cô”, “Vỡ đê”, “Cạm bẫy người”,... mỗi tác phẩm đều còn lưu lại những bài học, những vấn đề mang tính thời sự mà đến ngày hôm nay vẫn không hề cũ. Những lời phê phán của các nhà văn khác phái, những tri thức “nghiêm chỉnh” cùng thời đã không làm Vũ Trọng Phụng phải lùi bước mà vẫn tiếp tục phô bày những góc khuất của xã hội, vạch trần những mặt trái mà người ta lập lờ đánh lận con đen giả vờ không nghe không biết. Những lời văn gai góc, xù xì, xấu xí nhưng lại thật đến mức nhói lòng.
Tác phẩm
Dù chưa đọc tác phẩm này thì hẳn chúng ta đều biết và nhớ đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 (chương trình cũ). Dù chỉ là một đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm nhưng nhiêu đó thôi cũng là quá đủ để thể hiện sự mai mỉa, châm biếm sâu cay với sự lố bịch ngược đời của nhà văn Vũ Trọng Phụng trong toàn bộ cuốn tiểu thuyết. “Số đỏ”, cuốn tiểu thuyết làm nên tên tuổi của nhà văn được xuất bản lần đầu tiên tại Hà Nội báo và được in thành sách vào năm 1938. Tác phẩm xoay quanh cuộc đời rất “số đỏ” của Xuân, một thằng ma cà bông bỗng chốc gặp vận đổi đời, nghiễm nhiên bước vào tầng lớp danh giá thời bấy giờ, đồng thời cũng trào phúng sâu sắc với lối sống trưởng giả học làm sang, xa hoa, giả tạo của tiểu tư sản Hà thành.
Me xừ Xuân hay là lưu manh số đỏ
Thay vì đi thẳng vào đối tượng chính - tầng lớp tiểu tư sản thối nát của Hà thành, Vũ Trọng Phụng mượn điểm nhìn của Xuân Tóc Đỏ - một thằng lươn lẹo, lưu manh, đầu đường xó chợ nhưng lại có thói trưởng giả học làm sang để theo chân cái số phận may mắn đến bất thường của nó, bước vào thế giới xa hoa, phù phiếm nhưng nhìn đâu cũng thấy những nghịch lý, tha hoá của những người có học thức, có địa vị.
Xuân Tóc Đỏ xuất hiện một cách đầy dân dã, gần gũi đến mức có thể nói là trần trụi, thô kệch, lẳng lơ, hắn mải mê tán chị hàng mía, toan cướp giật ái tình về phía mình.
“… Cứ ỡm ờ mãi!
Xin một tị! Một tị tỉ tì ti thôi!
Khỉ lắm nữa!
Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn…”
Gọi hắn là Xuân Tóc Đỏ do cái màu tóc cháy nắng của hắn từ những ngày còn lang thang khắp nơi trèo cây hái sấu, quảng cáo thuốc lậu, nhặt banh ở sân quần, nhưng có lẽ chính nó đã đem lại “số đỏ” cho hắn như chính những gì ông thầy bói phán. Có lẽ do những mánh khóe, mất dạy, lọc lõi mà đời dạy cho nó từ thuở còn ma cà bông đã giúp hắn có thể đứng vững trong những luân chuyển của số phận, từ một thằng chẳng có gì lại trở thành cậu con rể của một gia đình quyền quý.
Lúc mới 9 tuổi, nó đã phải đi ở nhờ nhà một người bác họ, họ thúc bá. Bác nó nuôi nó thay đầy tớ và được cả họ khen là nuôi cháu bồ côi. Nhưng một hôm nó bị đánh một trận và bị đuổi đi. Bác gái nó tắm, nó đã khoét một chỗ phên nứa để nhìn! Từ đấy, thằng Xuân lấy đầu hè xó cửa làm nhà, lấy sấu ở các phố, cá hồ Hoàn Kiếm làm cơm. Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, làm chạy hiệu rạp hát, bán cao đan hoàn tán trên xe lửa, và vài ba nghề tiểu xảo khác nữa. Ánh nắng mặt trời làm cho tóc nó đỏ như tóc Tây. Cảnh ngộ đó tạo nó nên một đứa hoàn toàn vô giáo dục, tuy nó tinh quái lắm, thạo đời lắm. Nó mới xin được chân nhặt bóng trong sân quần độ trong vòng một năm nay thôi. Nhưng nó đánh quần chóng hay lắm nên được hội viên Pháp và Nam có lòng yêu, được trọng đãi một chút. Mộng tưởng của nó là sẽ có ngày được oai như Chim, Giao nếu hạnh phúc dắt đến cho nó một ông bầu. Bây giờ thì nó cam tâm yên phận là một thằng nhặt bóng. Tuy nhiên nó cũng mừng đã tìm được nghề ấy, cái nghề tuy hèn nhưng còn có thể hy vọng được chút danh thơm. Bán lạc, trèo sấu, câu cá, làm lính chạy cờ hiệu, những nghiệp ấy chỉ dắt đến một chỗ tắc tị. Phong trào thể thao, phong trào bình dân khiến nó lắm lúc tự kiêu tự đắc lạ lùng.
Xuân lọt vào mắt xanh của bà Phó Đoan, được bà giới thiệu vào tiệm may Âu hoá và rồi “được tham dự vào công cuộc Âu hoá”. Ai mà ngờ được một thằng đầu đường xó chợ như Xuân, mồ côi cha mẹ, ma cà bông, lớn lên bằng nghề bán phá sa, làm lính chạy cờ hiệu trong rạp hát, nhờ ơn của bà Phó Đoan mà một bước lên tiên, trở thành ông Đốc tờ Xuân vang danh lừng lẫy, tiến sĩ, giáo sư quần vợt, nhà cải cách quần vợt, nhà cải cách Phật giáo, cố vấn cho báo Gõ mõ hay thậm chí là vĩ nhân cứu quốc và được phong tặng Bắc đẩu bội tinh.
Cuộc đời của hắn không khác gì một trò đùa, một trò đùa khéo léo và hài hước đến mức lố lăng - chỉ dựa vào những trò mèo mà hắn học được từ những ngày còn lang thang, dựa vào việc hắn nắm bắt được mong muốn của những kẻ thượng lưu để một bước lên mây, hổ mọc thêm cánh.
Những kẻ văn minh hay là Âu hoá kệch cỡm, rởm đời?
Nhắc đến Số đỏ thì không thể nhắc đến những nhân vật đã trở thành dấu vân tay không phai mờ mà tác phẩm này đã in vào làng văn học Việt Nam. Từ vợ chồng Văn Minh đi Tây du học sáu, bảy năm mà không có nổi một mảnh bằng đến bà Phó Đoan goá bụa thủ tiết hai đời chồng với mong muốn được tìm lại cảm giác “được” hiếp, được hư hỏng một cách đầy khoa học và thằng con cầu tự suốt ngày “Em chã!”. Từ cụ cố Hồng chưa đến tuổi đã muốn leo lên hàng cụ cố với câu cửa miệng “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” đến những đứa con rất văn minh, rất tân tiến của cụ: cô Hoàng Hôn ngoại tình và ông Phán mọc sừng có đam mê muốn cho cả thế giới biết mình bị mọc sừng; cô Tuyết luôn ra vẻ ngây thơ, trong trắng như cái tên của cô vậy nhưng thực ra lại là một cô nàng hư hỏng, lăng loàn; cậu Tú học mãi chưa đỗ nổi Tú tài (nhưng vẫn được gọi là cậu Tú) trong lúc tang gia bối rối đã phát điên cả người vì mãi không được dùng đến mấy cái máy ảnh xịn. Từ nhà mỹ thuật TYPN của tiệm may Âu hoá (nhưng lại cấm vợ ăn mặc tân thời) đến những nhân vật như đốc tờ Trực Ngôn, ông Joseph Thiết,...
Từ độ được nhiều người gọi là Văn Minh, ông ta thấy cần phải chủ trương cuộc Âu hoá thì cái tên mới khỏi vô nghĩa. Một cái linh hồn khỏe trong một xác thịt khoè! Phát minh được chân lý ấy rồi, đi đâu ông cũng hăng hái cổ động cho thể thao. Vợ ông trước nhất, rồi đến người khác. Ông không thể thao, thể dục cũng không, vì không có thì giờ! Cái chương trình Âu hóa của ông ta làm cho ông ta lúc nào cũng phải trầm tư mặc tưởng.
...
Còn lai lịch bà Phó Đoan, thì kể nghe cũng hay hay. Hồi đương xuân, bà bị một người lính Tây hiếp, lúc bà mới ở nhà quê ra tỉnh xem hội Đình Chiến. Sau cuộc hiếp tráp phép đến ngay cuộc hiếp đúng luật, nghĩa là cuộc làm phép cưới. Người lính ấy sau thành một ông Phó Đoan. Ăn ở với nhau độ 10 năm, ông Phó Đoan chết, chết trung thành với nhà nước, chết chung tình với vợ, chết như những người yêu vợ quá sức. Rồi bà lấy một ông phán trẻ được hai năm thì ông chồng nội hoá cũng lăn cổ ra chết. Vì lẽ chưa ai thấy bà có nhân tình, nên những ngọn lưỡi rắn độc phao rằng những ngọn lửa tình do những kẻ chim bà không được đã khêu lên, bà bắt ông phán phải rập tất cả. Bà chính chuyên đến nỗi chồng bà kiệt sức, cạn sức, phải trốn xuống suối vàng.
...
“Có chồng thôi mà không có nhân tình? Thế là hèn, là xấu, là không có đức hạnh gì cả, không có thông minh nhan sắc gì cả, nên chẳng ma nào nó thèm chim!… Có ăn có chọi mới gọi là trâu chứ!”
...
Hôm nay Tuyết mặc bộ y phục Ngây thơ - cái áo dài voan mỏng, trong có coóc-sê, trông như hở cả nách và nửa vú - nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh. Thấy rằng thiên hạ đồn mình hư hỏng nhiều quá, Tuyết bèn mặc bộ Ngây thơ để cho thiên hạ phải biết rằng mình chưa đánh mất chữ trinh. Với cái tráp trầu cau và thuốc lá, Tuyết mời các quan khách rất nhanh nhẹn, trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám. Những ông bạn thân của cụ cố Hồng, ngực đầy những huy chương như: Bắc đẩu bội linh, Long bội tinh, Cao Mên bội tinh, Vạn tượng bội tinh, v.v... trên mép và cằm đều đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn, những ông tai to mặt lớn thì sát ngay với linh cửu, khi trông thấy một làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết, ai nấy đều cảm động hơn những khi nghe tiếng kèn xuân nữ ai oán, não nùng.
...
Ông Typn đã được mời ngay đến để nghĩ cách chế tạo một vài kiểu quần áo tang tối tân. Ông nhà báo đã được sự chủ khẩn khoản yêu cầu viết bài cáo phó, bài tường thuật, và sửa soạn chụp ảnh đăng báo.
Văn Minh vợ mơ màng một cách sung sướng rằng chỉ nay mai là sẽ được ăn vận toàn trắng, một điều mà bà vẫn ao ước bấy lâu nay. Văn Minh chồng ngồi hút thuốc lá Ăng-lê, cũng mơ màng đến phần tài sản mà ông ta sẽ được hưởng, nếu ông nội ông ta chết.
Đã hơn một năm nay, ông cụ già cay nghiệt đã đến tìm một ông chưởng lý văn khế để giao hẹn với pháp luật rằng mình có chết thì phần lợi tức của mấy chục nóc nhà mới được đem ra cho con cháu chia nhau... Ông cụ già không biết rằng nếu cái chết của mình lại có lợi cho con cháu đến như thế thì con cháu không khi nào lại muốn cụ cứ sống như thế mãi, dù là một ngày, dù là một giờ. Xưa kia, cụ đã trắng tay làm nên giàu, âu cũng là sinh ư nghệ, tử ư nghệ, hoặc là một cách chết vì nghĩa vụ.
Cậu Tân, mà ai cũng gọi là Tú Tân, không phải vì đã đỗ Tú Tài, nhưng mà vì đã ba lần thi trượt cái phần thứ nhất của bằng Tú Tài, lúc ấy loay hoay hai ba cái máy ảnh, cân nhắc xem hôm đi đám nên dùng đến cái nào thì hơn.
Bà Phó Đoan ngồi ẵm cậu con cầu tự của bà như một hiền mẫu.
Ông Joseph Thiết - một bạn thân của Văn Minh - thì ngồi trầm tư mặc tưởng với cái ý định mở một tờ báo bảo hoàng, không phải làm việc cho triều đình Huế, nhưng cho dòng họ Orléans bên Pháp, và cho ông Léon Daudet.
Mỗi nhân vật đều có phần, có cái đặc sắc riêng trong những mâu thuẫn, nghịch lý của riêng họ, như Văn Minh thì chẳng thấy Văn Minh mà Tuyết thì chẳng thấy ngây thơ chỗ nào cả. Ai cũng tự bôi son trát phấn về cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng cho đúng với cái danh thượng lưu của mình. Đúng như thằng Xuân đã nghĩ “cái gì nhố nhăng thì mới là tân thời”, và cũng thật tài tình khi một thằng nhố nhăng như hắn lại bước vào cái xã hội nhố nhăng không kém.![[Tóm tắt & Review sách] “Số Đỏ”: Khi Tiểu Thuyết Là Hiện Thực Trần Trụi Ở Đời - YBOX](http://cdn.nghengu.vn/wp-content/uploads/2026/01/tom-tat-tieu-thuyet-so-do-1.png)
Tiếng cười trào phúng sâu cay
Hai mươi chương sách là hai mươi bước từ tầng lớp hạ lưu đến tầng lớp quý phái, sang trọng, cuộc đời Xuân toàn là những may mắn, một chuỗi may mắn được số phận sắp đặt một cách ngẫu nhiên dựa trên ham muốn lợi ích của những kẻ ăn trên ngồi trốc trong xã hội. Hai mươi chương sách cũng là hai mươi mảnh ghép hoàn hảo để tạo nên một bức tranh phê phán hiện thực xã hội thời bấy giờ: rởm đời, lố lăng, háo danh, trơ trẽn, hãnh tiến, nơi mà giới hạn đạo đức và các giá trị tốt đẹp của truyền thống và nhân phẩm con người bị đẩy ra ngoài rìa để dành chỗ cho những dục vọng, ham muốn, tham lam của con người. Những bữa tiệc xa hoa, những khách sạn đầy ái tình, những sân quần với những con người văn minh và đỉnh cao nhất có lẽ là một đám tang gương mẫu, có tất cả nhưng không có tình người. Số đỏ làm cho người ta cười theo nhiều kiểu, nhưng cũng làm cho người ta căm phẫn và xót xa theo nhiều kiểu, bằng ngòi bút châm biếm, lối viết ngấu nghiến, dồn dập nhịp điệu và đầy sự mai mỉa, khinh miệt với hệ thống nhân vật - những kẻ đã đi từ cuộc sống vào trang văn, tác phẩm chính là một quả bom, một lời đả kích gay gắt của Vũ Trọng Phụng với xã hội tư sản cuối mùa ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Các phong trào “Âu hoá”, “Thể thao” “giải phóng nữ quyền” thực chất chỉ để che giấu lối sống tân thời thối nát, đồi bại, truỵ lạc, làm tiền, chà đạp trắng trợn lên mọi nề nếp đạo đức của cha ông.
Tóm tắt bởi: Quýt Ướp Lạnh - Bookademy
Hình ảnh: Quýt Ướp Lạnh
-
Theo dõi fanpage của Bookademy để cập nhật các thông tin thú vị về sách tại link: Bookademy
(*) Bản quyền bài viết thuộc về Bookademy - Ybox. Khi chia sẻ hoặc đăng tải lại, vui lòng trích dẫn nguồn đầy đủ "Tên tác giả - Bookademy." Các bài viết trích nguồn không đầy đủ cú pháp đều không được chấp nhận và phải gỡ bỏ.
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Nhân vô thập toàn là gì? Hiểu đúng về câu nói hay của người xưa
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Viết trẻ trung hay trẻ chung mới đúng? Mẹo phân biệt trung và chung
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị

