| ngày xuân, đọc thơ trần mộng túTạp Chí Da Màu - Văn chương không biên giới | Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promo
Kính chào BBT/Da Màu, Nhơn đọc bài viết này của ông Lê Hữu bàn về “tình yêu và cuộc sống” qua thơ của thi sĩ Trần Mộng Tú, có nhắc đến “Lời tỏ tình của hoa cúc”, tôi xin mạo muội copy bài viết dưới đây, cũng bàn về hoa cúc của một người già qua những suy tư về trới đất và con người, như một góp nhặt chút tình văn thơ trong vườn thơ ngày ba ngày Tết. Trân trọng. ——————————-
Lương Thư Trung Ba ngày Tết, đọc thơ “Cúc Trùng Dương” của Nguyễn Hải Thệ (1) “Ly hạ trùng dương cúc Chi đầu thục khí oanh” Thiền sư Viên Chiếu “Cúc trùng dương dưới dậu, Oanh thục khí đầu cành” Lê Mạnh Thát dịch(*) Nguyễn Hải Thệ còn có bút hiệu Ngy Do Thái và “Cúc Trùng Dương” là thi phẩm thứ hai của anh, sau tập “Ảo ảnh”. “Trùng dương” còn được gọi là “trùng cửu”, một điển tích khác. Đó là “ngày mùng chin tháng chin âm lịch (số chin là số dương, nên “trùng cửu” còn gọi là “trung dương”). Tục truyền, “Hoàn Cảnh, người huyện Nhữ Nam, đời Hậu Hán (25-220) theo học với Phí Trường Phòng. Ngày kia Phí Trường Phòng nói với Hoàn Cảnh : Ngày mùng chin tháng chín tới đây, nhà của ngươi phải tai nạn. Ngày đó ngươi nên đem cả nhà, tay đeo túi đỏ đựng hột thù du ( một thứ tiêu) lánh lên núi, uống rượu bông cúc đến tối mới về, họa may có thể tránh khỏi. Hoàn Cảnh nghe lời làm y theo. Tối trở về thấy gà vịt trâu chó trong nhà đều chết hết. Vì tích trên, nên đến tiết trùng cửu, người ta bỏ nhà, tạm lên núi, lánh nạn. Sau này thành thói quen. Ngày nay tiết trùng cửu dành riêng cho tao nhân mặc khách lên núi uống rượu làm thơ.”(2) Qua sự tích lên núi uống rượu bông cúc vào tiết “trùng dương”, người đọc có thể nhận ra toàn tập thơ 124 trang là những suy sư về dòng đời; dòng đời riêng của mình và dòng đời chung của tha nhân nơi này, nơi kia mà tác giả có lần bắt gặp giữa dòng sông đời trôi miên man bất tận… Còn lên núi ở đây, theo ý riêng của tác giả là lên “Núi Rồng”, tức là cái làng “Long Sơn”, Tân Châu, quê quán chôn nhau cắt rốn lúc mới chào đời và cho tới ngày nay, Tết này, tác giả tròn “thất thập”; để rồi qua bao năm dâu bể đổi dời mà vẫn sống nơi làng quê thân yêu ấy. Nhìn một cách khái quát về nơi chốn và hoàn cảnh như vậy, giúp người đọc sẽ dễ cảm thông hoàn cảnh những vần thơ của Nguyễn Hải Thệ tuôn tràn và từ đó tâm hồn của mỗi người đọc thơ anh dễ hòa nhịp cùng dòng cảm hứng của tác giả qua mỗi câu thơ nghe như bình dị mà chan chứa bao điều suy nghĩ thâm thúy vô cùng. Bài thơ “Cúc hoa”, tác giả ghi sáng tác vào dịp “Tết Trùng cửu, Bính Tuất 2006”, là một ví dụ điển hình về điển tích “trùng cửu”, “trùng dương” mà chúng tôi vừa dẫn là chủ đích của tác giả : “Lành thay. Bông cúc vàng yên phận Phe phẩy phơi lòng hoa cuối sân Gìn vàng. Giữ ngọc. Đợi trùng dương Niêm phong. Khép nhụy. Chờ thu tới Trong gió heo may đùa mát rượi Phất phơ hương mỏng đoá vô thường.” (Cúc hoa, trang 113) Vào tập, với bài thơ “Vô ngôn”, tức là “Không, Ta đâu có nói gì đâu”, tác giả cho người đọc thấy được cái nhìn của tác giả về cuộc đời, về con người, tuy không mới, cũng chỉ là “hạt cát”, nhưng câu thơ mang nặng nỗi trăn trở, băn khoăn : “Chớp mắt. Thương hồ. Người bạc tóc Lòng. Lao chao. Sóng đánh xô bờ Bạn ta. Nào. cụng chơi vài cốc Nhớ hột-bụi-nào-ta-kiếp-xưa?” (Vô ngôn, trang 7) Để rồi, theo mạch suy tư giữa làng cũ Long Sơn, chốn quê nhà và con rạch Cái Vừng rì rào chảy qua làng, tác giả cho chúng ta thấy trời đất bao la, “nhật nguyệt trùng trùng”, nhưng hóa công đâu có từ nan ai trong thân phận “hạt cát” mong manh giữa biển đời “lô xô lượn sóng”: “Nhật nguyệt trùng trùng. Trong hạt cát. Gian nan. Sương gió. Đâu riêng ai Ôm mộng biển. Rừng thiêng lửa tắt Xuân còn. Xuân hết. Hỏi …cành mai.” (Vô ngôn, trang 9) Đôi lúc nhà thơ nhớ bạn nơi xứ xa và rồi tác giả đề thơ tặng bạn phương xa, thi nhân ngồi nơi Long Sơn mà uống trà một mình, vắng bạn, kể cũng hiu hắt tuổi già : “Chong đèn. Ngồi giữa nhà. Thò túi Không tiền: không rượu. Vậy thay trà. Bạn bây giờ ở phương trời xa Một mình. Một bóng ta hiu quạnh. Đã biết. Tuổi già như cánh nhạn Bay qua đáy suối chiều hoang vu Chờn vờn chiếc bóng trong sương mù Tàn giấc mơ hoa. Tàn mộng ảo” (….) Bạn xa. Đời vắng người tâm sự Sông. Núi. Mây. Trùng dương. Bạt ngàn Bưng chung trà. Mùi nhớ chứa chan Gió động. Hương hoàng lan lãng đãng…” (Trà tối, trang 10) Thơ Nguyễn Hải Thệ trong “Cúc Trùng Dương” phần lớn tác giả sáng tác vào những ngày tháng 9 âm lịch, những ngày mùa Thu hiu hắt lá vàng, rất hợp với tiết “trùng cửu”, “trùng dương” bên chung rượu vàng bông cúc. Chẳng hạn như bài thơ “Tiếng huyền cầm”, tháng 9 năm Bính Tuất (2006), là cả một cõi “hồn già nghi ngút khói hoàng hôn”: “Tuổi già. Nghĩ cũng …dở. Mà …hay Mắt lem nhem. tự soi không rõ mặt Chẳng xuân hồng. Cũng chẳng thu không. Toàn đất dày đặc. Trời hư vô Sắc tướng. Chân không. Đồng một thể Giọt sương đêm rơi im như thế Hồn già nghi ngút khói hoàng hôn…” (Tiếng huyền cầm, trang 120) Hoặc bài “Rượu cúc vàng”, cũng sáng tác vào tháng 9 năm Kỷ Dậu, 2005 : Với niềm cảm thông bằng hữu còn phiêu bạt nơi xứ người, vốn không về gặp lại nhau chẳng phải vì lòng quên cố hương mà vì dòng đời cuốn trôi những mảnh đời xa quê vời vợi, làm cho kẻ ở và người đi lòng dặn lòng tình tri kỷ không dễ dầu phai lạt : “Thu vòi vọi. Nhạn bay đầu gậy Cúc trùng dương óng ả chân rào Mùa gió chướng. Đàn chim cánh mỏi Quê nhà mờ mịt . Đồng xưa đâu? Bạn nghiêng bình. dốc chiều tà vào cốc Rược cúc vàng long lanh bóng ai Ai cạn giọt buồn vàng hạnh phúc Đậm đà vị thống khổ bi ai? (….) Xiêm rộng tà huy bay vấn vương Em Tân Châu về cởi áo sương mù Bạn ta mấy đứa còn phiêu bạt Có phải đâu quên tình cố hương.” ( Rượu cúc vàng, trang 124 Mồng 5 tháng 9, Kỷ Dậu 2005) Những chữ dùng rất khéo như “vòi vọi”, “đồng xưa”, “dốc chiều tà vào cốc”, “long lanh bóng ai”, “cố hương”, gợi cho người đọc xa xứ một thoáng nhớ về chốn cũ mà bồi hồi … Rải rác khắp 124 trang thơ, Nguyễn Hải Thệ mang đến cho người đọc một nhân sinh quan dù không lạ nhưng với cách dùng những chữ vừa khéo léo, vừa có thần hồn như vậy làm cho tứ thơ của anh rất gần với thực tế cuộc đời. Những bài thơ “Vô thường”, “Mừng tuổi sáu mươi bảy” , “Tuổi già”, “Mộng Hồ Điệp”, “Người tới: ta về” và còn nhiều nữa những vần thơ mang mang hồn hư ảo cuộn tròn trong đời thật của kiếp nhân sinh. Như trong bài “Vô thường”, tác giả sáng tác từ những ngày xa xưa vào một đêm trăng rằm tháng 9 năm Ất Tỵ, 1965, khi có dịp dừng chân nơi phố thị Cần Thơ, với một dáng dấp của loài Quỳnh hương nào đó giữa cõi tiên và trần tục, nhưng sao nghe như chỉ còn trăng và hoa trong huyễn mộng trùng trùng : “Trăng nhìn hoa vàng và giai nhân Đời hoa nào mà không phai tàn? Mây hòa trong trăng trôi trùng trùng Nàng Vân hôn tay mình. Rưng rưng…” (Vô thường, trang 38) Hoặc như bài thơ “Mừng tuổi sáu mươi bảy”, giữa đêm khuya thanh vắng, bên bình trà nóng, tác giả tự mời mình chén trà giữa cảnh “trăng sáng, trời trong, sông yên tĩnh”, kể đã là lâng lâng cái bóng “hoàng hôn cổ độ” cũng đã tới nơi bến vắng đò chiều rồi : “Chân mỏi. Thôi về trên bến đợi Chiều nhân gian. Tịch mịch. Thu không Chuyện đời. Mắt ngó. Tuồng mây nổi Nước mãi ngàn năm tuôn biển Đông. Ngày về . Thu bóng đời ta lại Chẳng nhớ quên… Ai xa núi sông Làng cũ. Thôn xưa. Tình cố lý Hoàng hôn cổ độ. Sương mênh mông. Sông rất sâu. Đò ngang tắt chuyến Mây bay đi. Bỏ lại trăng già Con bướm vàng mùa hoa lỗi hẹn Người vô tình xé nát tim ta.” (Mừng tuổi sáu mươi bảy, trang 40) Đêm nào rồi cũng qua; bếp lửa nồng nàn nào rồi cũng lạnh; hồn êm êm nào rồi cũng có lúc bâng khuâng. Có còn chăng là “hồn già” và “bụi cỏ”, thầm nhủ lòng, thôi ta tự mừng tuổi ta giữa đêm thinh lặng với sương khuya lành lạnh như ngàn ‘lệ ngọc” long lanh: “Khói nhẹ. Bếp tàn. Ta lặng ngắt Bầu trời sao nhấp nhánh. Lung linh Nửa đêm. Trăng Cái Vừng vằng vặc Sông cũ ngàn năm nguyên hữu tình Không còn ai. trời đất thinh thinh Nhấm tách trà sen. Mừng tuổi mình Sương đọng bóng cành ngàn lệ ngọc Hồn già. Trong bụi cỏ. Mần thinh…” (Mừng tuổi sáu mươi bảy, trang 41) Trong thi tập “Cúc Trùng Dương” của Nguyễn Hải Thệ, những hình ảnh “hạc vàng”, “cúc vàng”, “trăng vàng”, “áo lụa vàng”, “bướm vàng” luôn có mặt, những hình ảnh tượng trưng cho cảnh giới nào khác ở một nơi bồng lai tiên cảnh nào đó, như một nét rất riêng trong thơ của tác giả: “Tuổi già. Quạnh quẽ. Chỉ còn trà Lặng lẽ bên đời. Ta với ta Thấy cúc vàng. Con bướm lượn Bâng khuâng… Hồ điệp mộng hoàng hoa? (…) Ta với cúc vàng đâu khác nhau Như sương. Như huyễn ảnh. Phù du Vô tư hoàng cúc bung phong nhụy Lão hạc ai hoài mối cảm thu…” (Cúc vàng, trang 84) Bởi lẽ mộng mị nào mà không như “ảo”, như “huyễn”, nên loài bướm mơ hoa vàng cũng là ảo ảnh phù du một kiếp đời ngắn ngủi: “Hồ điệp nào không như ảnh. Như huyễn? Mộng nào chẳng như khói. Như sương? Kiếp phù du sống giả. Vô thường Ai biết được: bướm hoá mình? Hay mình hoá bướm?” (Mộng Hồ Điệp, trang 76) Dường như thi sĩ nào khi tứ thơ lung linh, ý thơ bay bổng, thì màu vàng là màu gần với hồn thơ hơn những sắc màu nào khác. Chẳng hạn, thi sĩ Hoa Văn đã cho ta những sắc màu huyền diệu ấy trong bài thơ “Tìm đâu bóng vàng” với hai câu kết: “Ngôn từ hóa kiếp mai sau Lòng không nhớ cội tìm đâu bóng vàng.”(3) Ở một bài khác, “Mùa Xuân và em”, Hoa Văn cũng có những hình ảnh cúc vàng nở hoa vào ngày Tết xa nhà : “Xuân về rồi đó, Em ta nhỉ Hoa cúc thi nhau hé nụ vàng Ăn Tết nơi này sầu muốn chết, Nỗi sầu xa xứ cứ mênh mang!” (4) Hoặc như : “Không đợi không chờ xuân vẫn đến Xuân vàng tâm sự cũng vàng theo Ngồi đây mà xót đời mưa bụi Gió hắt hiu qua lối cỏ chiều…”(5) Với vài vần thơ vừa trích để thấy cái hồn của thi nhân dù bên nhà hay bên này, khi tuổi đời già dặn với bao bận sang mùa cũng là lúc hồn thơ đã chin muồi thì màu vàng là sắc màu rất hạp với tâm hồn của nhiều thi sĩ; và Nguyễn Hải Thệ cũng không ra ngoài cái cảm về màu vàng phiêu lãng vừa vương giả, vừa man mác buồn bóng lá thu phai ấy. “Cúc Trùng Dương” dù chỉ mỏng với 124 trang thơ, nhưng là một kho ý tưởng về cuộc đời, về cỏ cây vạn vật và con người. Với tuổi đời già dặn, với hồn thơ lâng lâng, với tứ thơ thâm trầm mà gần gũi, Nguyễn Hải Thệ đã khéo léo nói lên được ý nghĩa của đời sống hôm qua, hôm nay và mai sau. Dù nó là mộng ảo, ngắn ngủi, phù du đó, nhưng tác giả cũng cho ta thấy được cái tình cảm của nhà thơ khi trở về vời thực tại đời sống nơi làng Long Sơn với con sông Cái Vừng miên man trôi chảy giữa bao mùa nắng mưa cùng nhân thế, bất tận…: Với cái tuổi đời không còn trẻ, và những ngày giáp Tết gió bấc về se se lạnh mà ngồi bên chung trà nóng buổi sáng sớm, khi sương mai còn đọng trên lá trên cành mà đọc “Cúc Trùng Dương “ của Nguyễn Hải Thệ, tôi nghĩ là mình có một mùa Xuân thật ý nghĩa. Bởi tôi cảm được thơ anh vừa u mặc mà gần với tuổi già của mình, vừa mang tính triết lý cao xa mà không ra ngoài những biến đổi của trời đất và dòng đời. Thơ anh chính là cuộc đời mà anh đã trải qua và bắt gặp nơi mình, nơi người, nên dù đời người là phù du, huyễn mộng nhưng suy cho cùng, theo anh, đời vẫn mãi mãi đẹp và đáng sống biết dường nào khi anh hạ bút đề những câu thơ chan chứa cái tình tri âm, bằng hữu: “Trà sen nào chẳng đượm tình bằng hữu? Trúc gió nào chẳng phải tiếng tri âm? (Trà sen, trang 20) Thơ Nguyễn Hải Thệ trong “Cúc Trùng Dương” rất khó đọc, bởi tác giả gởi gắm nhiều nỗi niềm rất kín đáo qua nhiều điển tích xưa; nhưng nếu ai chịu khó đọc những bài thơ với những câu thơ làm ra không lấy gì dễ dàng này, tôi nghĩ thơ anh sẽ ở lại với người đọc lâu hơn, bền bĩ hơn và làm tâm hồn ta dễ gần với tác giả hơn qua những cảm thông và đồng điệu cùng chung trà , chén rượu vào lúc chiều Xuân, Tết về mà nghe rất ấm tình tri âm, tri kỷ… Houston, viết tháng Giêng năm 2009; đọc lại và bổ khuyết ngày 10-02- 2010, nhằm ngày 27 tháng Chạp, Tết Canh Dần Phụ chú: (*) Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản TpHCM, liên doanh Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Việt Nam, năm 2001,Tập 2, trang 647. (1) Tất cả các câu thơ dẫn trong bài viết, được trích từ bản thảo thi phẩm “Cúc Trùng Dương” của Nguyễn Hải Thệ, dày 124 trang, gồm 54 bài thơ, do tác giả gởi tặng năm 2007. (2) Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển của giáo sư Trịnh Vân Thanh, quyển II, do Ban Tu Thư Siêng Học xuất bản năm 1966, Sài Gòn, trang 14) . (3),(4),(5) Trích thi phẩm “Thơ và Thời Gian” của thi sĩ Hoa Văn, do nhà xuất bản Thăng Long (Hoa Kỳ) ấn hành, năm 2002, trang 39 và 114 Ngoài ra, các ảnh hoa minh họa, do tác giả bài viết này chụp trong vườn hoa sau nhà.
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Phân tích truyện ngắn Lặng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị
-
100+ bài thơ chúc Tết hay, ngắn gọn và ý nghĩa nhất 2026
-
Viết bài văn thuyết minh về tác phẩm Chí Phèo lớp 11
-
Mở bài chung nghị luận xã hội cho mọi đề hay nhất (35+ mẫu)
-
Top 20 Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện lớp 5 (điểm cao)
-

Những bài văn nlxh đạt giải quốc gia pdf
-

Tổng hợp các tác phẩm Nguyễn Trãi hay tiêu biểu
-
Tác giả Nguyễn Du - Cuộc đời, Sự nghiệp, Phong cách sáng tác
-
Top 30 Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học lớp 9 (học sinh giỏi)
-
Top 50 bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (hay nhất)







