Hoán dụ
Thứ tư - 14/01/2026 21:09
Hoán dụ (tiếng Anh: metonymy (/mɪˈtɒnɪmi, -nəmi, mɛ-/))[1][2][3] là một hình thái tu từ trong đó một khái niệm, hiện tượng hoặc sự vật được gọi bằng tên của một cái gì đó liên quan chặt chẽ với khái niệm, hiện tượng hoặc sự vật đó.[4]
Hoán dụ gồm có 4 kiểu thường gặp:
- Lấy một bộ phận để gọi toàn thể.
- Lấy một vật chứa đựng để gọi một vật bị chứa đựng.
- Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật.
- Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.
- Bộ phận và toàn thể.
- Đồ vật và chất liệu.
- Vật phẩm và người làm ra nó.
Hoán dụ và các hình thái tu từ có liên quan rất phổ biến trong lời nói và văn viết hàng ngày. Synecdoche và metallicepsis được coi là loại hoán dụ cụ thể. Tính đa nghĩa đôi khi là kết quả của mối quan hệ hoán dụ. Cả hoán dụ và ẩn dụ đều liên quan đến việc gọi khái niệm này bằng tên của khái niệm khác.[5]
- Từ đa nghĩa
- Ẩn dụ
- Blank, Andreas (1997). Prinzipien des lexikalischen Bedeutungswandels am Beispiel der romanischen Sprachen. Walter de Gruyter. ISBN 978-3-11-093160-0.
- Corbett, Edward P.J. (1998) [1971]. Classical Rhetoric for the Modern Student (ấn bản thứ 4). New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-511542-0.
- Dirven, René (1999). "Conversion as a Conceptual Metonymy of Event Schemata". Trong K.U. Panther; G. Radden (biên tập). Metonymy in Language and Thought. John Benjamins Publishing. tr. 275-288. ISBN 978-90-272-2356-2.
- Fass, Dan (1997). Processing Metonymy and Metaphor. Ablex. ISBN 978-1-56750-231-2.
- Grzega, Joachim (2004). Bezeichnungswandel: Wie, Warum, Wozu? Ein Beitrag zur englischen und allgemeinen Onomasiologie. Heidelberg: Universitätsverlag Winter [de]. ISBN 978-3-8253-5016-1.
- Lakoff, George; Johnson, Mark (1999). Philosophy in the Flesh: The Embodied Mind and Its Challenge to Western Thought. Basic Books. ISBN 978-0-465-05674-3.
- Somov, Georgij Yu. (2009). "Metonymy and its manifestation in visual artworks: Case study of late paintings by Bruegel the Elder". Semiotica. Quyển 2009 số 174. tr. 309-66. doi:10.1515/semi.2009.037. S2CID 170990814.
- Smyth, Herbert Weir (1920). Greek Grammar. Cambridge MA: Harvard University Press. tr. 680. ISBN 978-0-674-36250-5.
- Warren, Beatrice (2006). Referential Metonymy. Publications of the Royal Society of Letters at Lund. Lund, Sweden: Almqvist & Wiksell International. ISBN 978-91-22-02148-3.
- Lại Nguyên Ân (1999). 150 thuật ngữ văn học. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 154.
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Nhân vô thập toàn là gì? Hiểu đúng về câu nói hay của người xưa
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Viết trẻ trung hay trẻ chung mới đúng? Mẹo phân biệt trung và chung
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị





