Literature-studying Blog
* Dưới đây là tui chia ra 2 phần nha
I. PHÂN TÍCH 18 CÂU ĐẦU
Người con gái trong xã hội phong kiến xưa luôn gánh chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi. Nếu không vào cung trở thành cung nữ, được sủng ái rồi bị ruồng bỏ không thương tiếc hay lấy chung một chồng để rồi phận má đào bị ghẻ lạnh đơn côi thì cũng phải xa chồng vì chiến tranh. Người con gái xinh đẹp tài năng Thúy Kiều, trong đoạn “Trao duyên” (Trích “Truyện Kiều”) của Nguyễn Du, tuy không phải sống kiếp chồng chung, không bị ruồng bỏ, nhưng lại phải gánh chịu tấn bi kịch đau thương, ôm lấy sự buồn khổ vì gia biến. 18 câu thơ đầu của đoạn trích thể hiện sâu sắc nỗi niềm của nàng Kiều.
Đoạn trích “Trao duyên” nằm trong phần hai của “Truyện Kiều” - “Gia biến và lưu lạc”, đồng thời cũng là mở đầu cho nỗi đau khổ dằng dặc của Kiều trong suốt 15 năm phiêu bạt sau khi sóng gió ập đến gia đình họ Vương. Kiều ngổn ngang bao nỗi trăn trở, rồi cuối cùng quyết định nhờ em mình là Thúy Vân chắp mối tơ duyên với chàng Kim Trọng. Nó như một bi kịch kép: bi kịch tình yêu tan vỡ và cuộc đời lầm than; vì thế, mỗi câu thơ đều được viết nên bằng tất cả niềm cảm thông và thương xót của tác giả.
Mở đầu đoạn trích là lời Thúy Kiều ướm hỏi, nhờ cậy Thúy Vân, vừa từ tốn, trang trọng, mà vừa sắc sảo:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưaGiữa đường đứt gánh tương tưKeo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”
Với thanh trắc mang âm điệu nặng nề, từ “cậy” thể hiện niềm tin có thể nương tựa hoàn toàn vào Thúy Vân. Chữ “cậy” được thốt lên quằn quại, như dồn ép, buộc Vân phải “chịu lời”, thông cảm chấp nhận việc nhờ vả như một sự san sẻ khổ nạn cùng người chị đáng thương. Thấu hiểu sự hi sinh lớn lao mà em gái sẽ phải gánh chịu, Thúy Kiều cẩn trọng “lạy” rồi “thưa” chuyện một cách trang nghiêm, khả kính lạ thường. Tưởng chừng việc “thưa chuyện” sẽ thật gian nan, nhưng Nguyễn Du lại để nàng Kiều khéo léo mở lời thật giản dị, tinh tế mà chất đầy chua xót. Thành ngữ “giữa đường đứt gánh” kết hợp với điển cố “keo loan” là cách nói vừa trang trọng, vừa đắng cay về mối tình Kim - Kiều lỡ dở, mối duyên chắp nối giữa Vân và chàng Kim.
Giữa dòng tâm trạng dâng trào, Thúy Kiều bắt đầu trầm xuống khi thổ lộ tâm tư của mình, những tâm tư đau buồn mà “như chia tấm lòng”:
“Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”
Điệp từ “khi” nhắc lại những tháng ngày đã qua, những niềm vui đã có, những lời thề sánh đôi đã cùng nhau hứa hẹn. Cách kể tuy ngắn gọn, vắn tắt, đầy đủ thể hiện mối tình, nhưng những hình ảnh gợi về kỉ niệm của đôi nam nữ: “quạt ước”, “chén thề” hiện lên trong tâm trí và lời bộc bạch của Kiều rõ nét như một thước phim. Dường như, Kiều muốn khẳng định một cách chắc chắn với Thúy Vân rằng mối tình mà Kiều nợ Kim Trọng không phải là mối tình trăng gió vật vờ, mà nó sâu sắc và đẹp đẽ biết nhường nào. Giữa dòng “sóng gió bất kì” ập đến gia đình, người chị cả Thúy Kiều tự nguyện bán mình để lấy ba trăm lạng cứu cha và em khỏi vòng tội tù oan nghiệt. Có lẽ, vì không thể trọn vẹn hiếu và tình, nàng phải giãi bày và thắt buộc Vân vào mối duyên vẫn thường canh cánh bên lòng Kiều như một món nợ nặng nề khó trả ấy.
Để xoa dịu, an ủi và thuyết phục Vân yên lòng chấp thuận, Kiều vừa tha thiết vừa khôn khéo lí giải đôi bề, lí tình trọn vẹn:
“Ngày xuân em hãy còn dài,Xót tình máu mủ thay lời nước non.Chị dù thịt nát xương mòn,Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Nhắc đến hình ảnh ước lệ “ngày xuân” - quãng đời tuổi trẻ đáng quý, nhắc đến “tình máu mủ” thiêng liêng và bất tận, mỗi lời Kiều nói là một sự thuyết phục bằng cả lí trí và tình cảm. Với cách diễn tả bằng thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”, lấy cái chết để trói buộc Vân, nhưng có lẽ Kiều cũng coi đó là một sự giải thoát khỏi nỗi tuyệt vọng cùng cực, vì trái tim nàng như đang hấp hối khi đối diện với nghịch cảnh của chính mình. Vậy mới nói, Vân làm sao nỡ từ chối những lời gan ruột thảm thiết ấy?
Dường như cho đến lúc này, Thúy Kiều mới nhẹ lòng để trao lại kỉ vật tình yêu:
“Chiếc thoa với bức tờ mây,Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”
Thúy Kiều trao lại cho em những tín vật gợi lại mối tình đầu: chiếc vành, tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền. Nếu như ở đoạn trên, Kiều kể về mối tình cùa mình bằng giọng điệu như đang cố bình tĩnh thì đến đây, trái tim run rẩy của nàng đã bắt đầu lên tiếng. Những kỉ vật ấy là nơi nàng tìm đến để nguôi ngoai nỗi nhớ người yêu, chẳng dễ gì trao lại cho em; cho nên Kiều mới thốt lên những lời đầy lạ lùng, phân biệt của tin và “của chung”. Cách ngắt nhịp 4/4 khiến câu thơ vừa khoáng đạt vừa nghẹn uất, thể hiện sự luyến tiếc vì duyên trao đi mà tình lại không thể. Rõ ràng, lí trí buộc nàng phải dứt tình với chàng Kim, nhưng con tim yếu mềm lại chẳng cho phép. Qua từ giả định “dù” được sử dụng để nói về tương lai Thúy Vân và Kim Trọng sẽ thành đôi, trong Kiều như vẫn nhen nhóm chút hi vọng thay đổi hiện thực. Kiều đau khổ tự xem như mình là người đã chết, xem mình là “người mệnh bạc”, người bất hạnh, không may mắn không thoát ra được như một định mệnh. Trao kỉ vật là trao cả linh hồn, sự sống, nên sự tồn tại của Kiều giờ đây chỉ còn là thể xác.
Đoạn trích “Trao duyên” với 18 câu thơ mở đầu đã gây ấn tượng mạnh bởi ngôn ngữ chọn lọc, có sự kết hợp khéo léo của cách nói văn chương quý tộc và ngôn ngữ bình dân, vừa có tình mà vừa có lí. Từng lời lẽ của nàng Kiều đều rất điềm tĩnh, rạch ròi, song dường như có sự kìm nén tình cảm và nỗi đau, nỗi bứt rứt vì gánh nặng tình yêu:
“Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.”
Qua 18 câu thơ đầu đoạn trích “Trao duyên”, Nguyễn Du xứng đáng là bậc thầy kiệt xuất trong việc miêu tả tâm lí nhân vật. Không chỉ thấu hiểu, ông còn biểu hiện sự rối ren, xung đột trong nội tâm một cách nghệ thuật, có tầng có lớp. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện nỗi xót xa của mình, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nàng Kiều.
II. PHÂN TÍCH 18 CÂU TIẾP THEO
Người con gái trong xã hội phong kiến xưa luôn gánh chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi. Nếu không vào cung trở thành cung nữ, được sủng ái rồi bị ruồng bỏ không thương tiếc hay lấy chung một chồng để rồi phận má đào bị ghẻ lạnh đơn côi thì cũng phải xa chồng vì chiến tranh. Người con gái xinh đẹp tài năng Thúy Kiều, trong đoạn “Trao duyên” (Trích “Truyện Kiều”) của Nguyễn Du, tuy không phải sống kiếp chồng chung, không bị ruồng bỏ, nhưng lại phải gánh chịu tấn bi kịch đau thương, ôm lấy sự buồn khổ vì gia biến. 18 câu thơ cuối của đoạn trích thể hiện sâu sắc nỗi niềm của nàng Kiều sau khi trao mối duyên cho em gái.
Đoạn trích “Trao duyên” nằm trong phần hai của “Truyện Kiều” - “Gia biến và lưu lạc”, đồng thời cũng là mở đầu cho nỗi đau khổ dằng dặc của Kiều trong suốt 15 năm phiêu bạt sau khi sóng gió ập đến gia đình họ Vương. Kiều ngổn ngang bao nỗi trăn trở, rồi cuối cùng quyết định nhờ em mình là Thúy Vân chắp mối tơ duyên với chàng Kim Trọng. Nó như một bi kịch kép: bi kịch tình yêu tan vỡ và cuộc đời lầm than; vì thế, mỗi câu thơ đều được viết nên bằng tất cả niềm cảm thông và thương xót của tác giả.
Sau khi trao tín vật tình yêu, tâm hồn Kiều vẫn chưa thể nguôi ngoai:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.”
Với hình ảnh ước lệ “mai sau” gợi về tương lai mù mịt, Kiều không còn giữ được sự yên lòng trước đó, nàng như người lội nước hụt chân rớt xuống vực sâu, chới với không biết bám víu vào đâu. Nhớ lại cảnh Đạm Tiên đã từng hiện về qua làn gió “ào ào đổ lộc rung cây”, Kiều tưởng tượng đến lúc Vân và chàng Kim nên vợ nên chồng, đến cõi hư không mà mình cũng sẽ giống như Đạm Tiên, chỉ là một mảnh hồn oan vật vờ theo gió hiu hiu trên ngọn cỏ lá cây nhưng vẫn vấn vương với tiếng tơ trên phím đàn và mùi hương của mảnh trầm ngày xưa. Nguyễn Du đã tài tình chuyển hình ảnh từ cõi thực hóa thành cõi mộng, bao trùm lấy tâm trí của nàng Kiều.
Thúy Kiều dường như chưa thoát khỏi nỗi lo âu đến tuyệt vọng, nên vẫn ám ảnh, quẩn quanh ý nghĩ về tương lai nơi chín suối:
“Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.”
Kiều đinh ninh minh sẽ là một oan hồn trong cõi chết, không thể siêu thoát vì vẫn “mang nặng lời thề”, lời nguyền “nát thân bổ liễu” để “đèn nghì trúc mai”, cho nên nàng nên tha thiết dặn em hãy rảy cho chén nước làm phép tẩy oan. Nàng như nửa mê nửa tỉnh, từng lời nói như phảng phất từ cõi âm vọng về. Dù trong nghịch cảnh đớn đau, Thúy Kiều trong tác phẩm của Nguyễn Du vẫn rất chu đáo, khoan dung và giàu đức hi sinh cao đẹp.
Từ trong tận cùng của nỗi đau khổ, Kiều tự độc thoại với chính mình nhưng từng lời nói vẫn hướng về chàng Kim:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
Từ chỉ thời gian “bây giờ” kết hợp với thành ngữ “trâm gãy gương tan” đã chấm dứt cõi ảo mộng, kéo Kiều về hiện thực đổ vỡ đầy chua xót, phũ phàng. Giằng xé tâm can Kiều lúc ấy là sự dày vò vì mặc nợ Kim Trọng, nên nàng chỉ có thể chịu tội với chàng bằng trăm nghìn lần “gửi lạy” tạ lỗi và biết ơn. Một lần nữa bằng các thành ngữ dân gian, Nguyễn Du lại để nàng Kiều tự nhận ra và có phần oán trách gần như bất lực về sự lỡ dở của tình duyên bởi “tơ duyên ngắn ngủi”, về sự bạc bẽo, trôi nổi của mình như bông hoa giữa dòng oan nghiệt bởi “phận bạc như vôi”.
Kết thúc đoạn thơ, Thúy Kiều cất lên tiếng gọi Kim Trọng tha thiết khiến cho lời than như một tiếng nấc được thốt ra nghẹn ngào:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
Với hàng loạt từ cảm thán “ôi”, “hỡi”, “thôi thôi” cùng cách gọi Kim Trọng thật thân thiết “Kim lang” được điệp lại, Kiều như tự coi mình là người nương tử phụ bạc. Sự khéo léo tài tình của Nguyễn Du là ông đã ngắt nhịp 3/3, khiến câu thơ như tiếng nấc nghẹn khi tình duyên giữa Thúy Kiều và Kim Trọng không bao giờ có thể hòa hợp được nữa. Bởi thế, đoạn thơ đã diễn tả thành công tâm trạng tuyệt vọng, dày vò của Kiều, để dẫn dắt đến nỗi đau tột cùng khiến thể xác cũng sụp đổ:
“Cạn lời hồn ngất máu say,
Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá đồng.”
Hệ thống từ ngữ, hình ảnh và điển tích giàu sức biểu cảm chính là cái thần kì trong ngòi bút Nguyễn Du, thể hiện sâu sắc tâm trạng hoang mang đỉnh điểm của Thúy Kiều. Tiếng nói thương xót thân phận trong “Truyện Kiều” cũng giống như những tiếng gọi hồn trong “Văn chiêu hồn”, “Phản chiêu hồn”… của tác giả, cho thấy nhà thơ quan tâm nhiều đến sự oan ức trong cái chết của những người bất hạnh - một phương diện độc đáo của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du.
Qua 16 câu thơ cuối đoạn trích “Trao duyên”, Nguyễn Du xứng đáng là bậc thầy kiệt xuất trong việc miêu tả tâm lí nhân vật. Không chỉ thấu hiểu, ông còn biểu hiện sự rối ren, xung đột trong nội tâm một cách nghệ thuật, có tầng có lớp. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện nỗi xót xa của mình, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nàng Kiều.
❤ _by_banhmithiu_
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Nhân vô thập toàn là gì? Hiểu đúng về câu nói hay của người xưa
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Viết trẻ trung hay trẻ chung mới đúng? Mẹo phân biệt trung và chung
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị







