Tác phẩm Nguyễn Hàn Chung

Thứ sáu - 16/01/2026 13:53

Trương Vũ Thiên An DÙ ĐÃ TÀN HOA BƯỞI

Đêm trừ tịch Đinh Mùi 1907 của phố cổ Hội An bất ngờ chứng kiến sự ra đời của một con người mà chưa đầy trăm năm sau, chính con người đó ít nhiều đã làm bầu bạn nhiều nơi thương nhớ tìm về những con đường mảnh mai xứ cổ để hiểu sâu hơn về một người thơ đã để quên đâu đó giữa cõi tạm lạnh lẽo và ấm áp này “một tiếng chim kêu” góp phần làm lảnh lót sáng bừng lên cả một rừng thơ nhiều cung bậc. Con người đã đi khỏi phố cổ với tinh thần thâm sâu của triết học “Đi là đi biệt từ khi chưa về” đó (nói theo kiểu Bùi Giáng), con người đã xuất phát với tinh thần thân đi nhưng tâm còn trụ lại qua cuộc hành hương về phương Bắc nhưng tâm vẫn cất giấu một uyên nguyên nguồn cội đá khói miền Trung ngũ hành xứ Quảng đó; con người mà cả tuổi thơ cứ vừa lãng đãng phiêu bồng vừa trầm tích trong lưu vực của hai nền văn hóa Trung và Việt đó chính là nhà thơ, nhà giáo, nhà biên tập, nhà dịch thuật Khương Hữu Dụng. Vâng, “Bao nhiêu nhà trong một kẻ xa nhà”! Rùng mình vì cơ duyên nào đã ngẫu nhĩ ứng vào Ông hai từ Hữu Dụng. Còn gì tôn vinh một con người hơn khi chính con người đó được đắc dụng để hữu ích cho đời. Chỉ nói riêng về thơ, Khương Hữu Dụng làm thơ nhiều và làm nhiều thơ. Ông cũng đã đi qua nhiều dòng thơ khác nhau. Như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận ra, sự nghiệp thơ của Khương Hữu Dụng khởi đầu bằng Đường thi, rồi tiếp biến sang Thơ Mới. Nhưng phải chăng sự tiếp biến diễn ra chưa thật triệt để hay vì một lí do ngoài Ông mà trong Thi nhân Việt Nam đã bỏ ngỏ một tên gọi. Nhưng có hề gì vì phải đâu những nhà thơ có tên trong Thi nhân Việt Nam nào khi ra đi cũng đều được người đời ghi nhận một dòng lẫm liệt như ông: “Ông là cây đại thụ trong làng thơ Việt Nam” (theo nhà thơ Nguyễn Đức Mậu) và đều được vinh dự có thơ tuyển vào 100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX. Đời thơ Khương Hữu Dụng có thơ viết cho mình và thơ tặng cho người. Có thơ vì nhà và có thơ vì nước, vì đời. Có tình ca và cả anh hùng ca. Có bản ngã ca và cả thế sự ca. Vậy là trọn vẹn. Điều đáng suy nghĩ thêm là có vẻ như trong bất kỳ một mảng thơ nào của Khương Hữu Dụng, ta cũng đều có cơ may nhận ra bóng dáng của cả ba con người ấy trong cùng một hình hài. Đó là ba con người hữu nhân, hữu tình, hữu nghĩa cứ hồn nhiên mà thảng thốt đi về ngược xuôi trong thơ Ông. Ba con người đó có lúc cùng trong trường chinh cuộc chiến vượt dốc đèo núi đá, nơi tưởng chừng “Có lùm cây vút tuyệt đường chim”. Có khi ngẩn ngơ thương ai tìm về Côn Sơn để chỉ thấy tịnh không mây trắng, thứ mây trắng hồn nhiên vô ưu mà lắm muộn phiền cứ treo trên trời, trên tóc thi nhân như một ám dụ đậm chất đồng dao thiên cổ lụy “Mây trắng vô tâm giãi trắng trời”. Rồi cùng loay hoay những lần chờ người hẹn mà nghe cứ như đem cả sinh mệnh tình yêu của mình ra mà chờ cả một cuộc hẹn trong vô thường khắc khoải. Càng không phải hẹn để được chối từ kiểu Hồ Dzếnh “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé” mà là cả một ngóng vọng cực kì nghiêm túc: Em hẹn sao em chẳng tới Để đèn chong mãi đêm khuya Mòn mỏi bây giờ đã lụi Tuổi thơ của Khương Hữu Dụng là một tuổi thơ lạ lùng. Trong tuổi thơ đó, dưới ánh sáng tâm hồn của người cha, người con trai mà trí tuệ bắt đầu nhấp nhánh những nét thông tuệ đó không phải là thụ động náu mình mà chính thực là đã có cuộc lên đường đi tìm sự gặp gỡ với chính mình trên những ngõ xưa Đường thi rêu cổ. Dấu ấn cổ kính của thơ ca phương Đông mà đặc biệt là Đường thi trên cả một trường đoạn thơ trước và sau Cách mạng Tháng Tám của nhà thơ Khương Hữu Dụng là khá rõ (dẫu ta vẫn rất trân trọng hồn thơ Việt và những lời thơ Việt của ông còn tươi dấu tích trên thềm hiên những ngôi nhà Đường thi của chính ông như bài Mừng thọ bà nội 80 tuổi với những câu như “Phải chăng thế sự ngoài tai để - Trệu trạo đường vui dắt cháu chơi” hoặc bài Chăn trâu vừa thật thà cụ thể vừa khẩu khí bóng bẩy thật sống động với cảnh tượng “Lưng trâu ngất ngưởng chốn đồng quê - Roi một cành tre, chóp nón mê - Kèn trúc sớm ra kêu gió tới - Mảnh tơi chiều lại chở mưa về”… Chất Đường thi không chỉ thể hiện trên cả một vệt dài dằng dặc những bài thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt đăng đối mẫu mực của cả một đời thơ Khương Hữu Dụng mà ngay cả trong những bài thơ thất ngôn theo kiểu tự do, ngũ ngôn theo kiểu tự do và một số bài thơ lục bát của ông. Hình thức là thơ mới, thơ tự do nhưng hồn cốt vẫn vấn vương mùa cổ điển. Trong hơi thơ trầm mặc. Trong cổ kính ngôn từ. Trong khơi xới điển tích điển cố. Trong hòa thanh, đối thanh. Hãy đọc một đoạn nhỏ của Hương còn: Tóc sót vài ba sợi Lòng đau chín mười phần Này son, không thắm nữa Này phấn, đã phai dần Và đây là một đoạn khác của Bài Đợi chờ: Lúc còn: duyên ngẫu nhớ Khi mất: gặp tình cờ Nửa kiếp tình ân ái Ngàn năm ý đợi chờ Sẽ trở nên không cần thiết khi dềnh dàng chứng minh thơ của Khương Hữu Dụng giàu chất Đường thi, chất cổ điển. Vấn đề cần bàn thêm (dù cũng đã không còn quá mới nữa) là giăng mắc, lãng đãng sau trầm mặc Đường thi cổ điển đó là một hồn thơ trẻ trung, tươi mới đầy chất Việt. Có thể Khương Hữu Dụng không phải là người duy nhất nhưng ông chắc chắn là một trong không nhiều những nhà thơ Việt Nam đã đi xuyên qua một mùa Thơ Mới với mực thước những trần thiết đầy hương vị cổ điển nhưng lại bất ngờ vén rào xào xạc một mảnh hồn thơ phóng túng lủ khủ đó đây những tình tứ nhẹ nhàng trai tráng đến nồng nàn hiện đại. Có thể lấy ngay bài thơ Đợi anh về vừa rất giống vừa rất khác với Đợi anh về của Xi-mô-nốp để làm một ví dụ. Dễ lầm tưởng bài thơ men theo lối cũ xuân xưa của Vương Xương Linh tả cảnh ngày xuân thiếu phụ bước lên lầu để ngóng người xa và tự trách mình vì đã để người tình (chồng) theo đuổi công danh để giờ mình đành vò võ giữa ngày xuân qua hai khổ thơ đầu - dù rằng ngay từ câu đầu của bài thơ đã đột phá một từ “vợi” (chứ không phải vơi) rất dân dã mà hiện đại đến bất ngờ: Đợi anh vợi mùa xuân Chẳng thấy anh trở lại Chỉ thấy chim én về Và hoa đào vẫy mãi Tay vít một nhành hoa Níu áo mùa xuân hỏi: Vì người công tác xa Xuân ơi, Xuân có đợi? Xin một nụ trên cành Ủ kín vào thương nhớ Em để dành mùa xuân Đợi anh về mới nở… Quá hiện đại, thậm chí hiện sinh say đắm mà nhân văn đến nồng nàn trong một ý tưởng làm bất ngờ những nhà thơ trẻ đương đại còn đang loay hoay đòi hỏi một sức sống mới cho thơ. Thương người xa, cô gái níu một nhành hoa xin mùa xuân hãy đợi người về rồi hãy nở. Mà dù xuân của trời đất có vô tình nở trước thì có can gì vì hãy còn đó cho anh một tâm hồn, một hình hài của em vẫn đau đáu “Đợi anh về mới nở”! Sẽ thiếu sót nếu không nói là thiếu trân trọng với hồn thơ Khương Hữu Dụng khi đề cập đến những bài tình thơ rất mới, rất đắm đuối của ông mà bỏ sót một Hương còn. Bài thơ có thể được xem là một trong những bài thơ tình đầy xót xa, đầy nhung nhớ đến cháy bỏng đối với một chuyện tình đã lẻ bóng. Tất cả đã tan rồi theo người đã xa, có lẽ là đã khuất. Mà sao tất cả hãy còn đây: này thư, này ảnh, này quyển sách (chưa kịp đọc), này quạt, này mảnh khăn. Nhưng Khương Hữu Dụng làm ta rớt nước mắt vì cái cách khép lại bài thơ nghe say đắm đến rùng mình: Quạt không xòe gió nữa Khăn đã rớt tay cầm! Giở đến xấp đồ cũ Áo bay mùi ái ân… Thơ như vậy là già hay trẻ? Cũ hay mới? Khác với truyện thiên về kể, diện tích thơ là diện tích của giãi bày. Nhưng diện tích thơ của rất nhiều bài thơ của Khương Hữu Dụng, trừ những bài thơ thất ngôn bát cú với hạn định ngặt nghèo, có vẻ như lại là diện tích của những câu chuyện nhỏ. Ta thường gặp trong không gian thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn cũng như một số bài thơ tự do của ông đứng ngồi những câu chuyện nhỏ làm cơn cớ để giãi bày. Chí ít cũng là một sự tình nào đó có chức năng như một tứ thơ làm nền để tâm tình vung vẩy. Phải, chất tự sự là một nét đậm của thơ Khương Hữu Dụng. Đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên của nghệ thuật? Hay là sự lặp có ý thức trong vô thức của một hồn thơ mà ta quen gọi nôm na là “tạng thơ”? Và “tạng thơ” đó phải chăng đã được báo trước từ một ngày niên thiếu có thiên hướng đặc biệt ưa thích việc đọc truyện của Ông? Trở lại với bài thơ Đợi anh về, cách giãi bày của Khương Hữu Dụng trong bài thơ này có thể xem là một minh họa mẫu mực cho điều đang bàn. Bài thơ đầy chất tự sự: Chuyện một người con gái đợi người thương đang bận công tác xa. Chắc người đi có lời hẹn mùa xuân về. Nhưng chỉ thấy chim én đơn độc về. Người đợi hỏi nhỏ mùa xuân về chuyện hẹn ước. Rồi xin cây một nụ trên cành để ủ đầy ắp hương xuân. Để hoa cùng người đợi người về mới chịu nở! Tất nhiên, làm nồng nàn cả bài thơ là nỗi giãi bày đằng sau câu chuyện nhỏ. Nhưng chính lối tự sự ngôi nhất của bài thơ theo kiểu Khương Hữu Dụng không phải là không góp phần làm ấn tượng thêm, dễ nhớ thêm những bài thơ trữ tình-tự sự của ông. Ngay cả những bài thơ khó nhận ra chất tự sự của Khương Hữu Dụng như bài Trở đò chẳng hạn, dù kiệm lời nhất, thấy cũng không đi chệch khỏi quỹ đạo nghệ thuật có thiên hướng tự sự hóa trữ tình đó: Mấy bóng người trên một bóng xuồng Mang về bến thẳm bóng hoàng hôn Bên dòng, viễn khách dừng chân muộn Trông với bờ xa mắt gửi buồn Tất nhiên, không chỉ thơ Khương Hữu Dụng mới có khuynh hướng chọn giọng tự sự. Giọng tự sự ngôi nhất là giọng chủ đạo của Thơ Mới. Bởi lẽ Thơ Mới là thơ của sự bộc bạch cái tôi. Vấn đề là một nhà thơ của mùa thơ cổ điển hai phần ba con người còn chìm khuất sau khói sương cổ điển của một mùa thơ có khuynh hương phi ngã, khắc kỉ lại đã chân thành chọn cho mình một giọng thơ gắn liền với sự bộc bạch qua những sự tình chuyện kể. Nhà thơ Khương Hữu Dụng đã mất, một trong những cây đại thụ của thơ ca Việt Nam đã nghiêng bóng. Có hề gì. Vì những gì vì đời ông đã viết ra, những gì vì đời ông đã sống mãi - hãy còn hắt bóng. Nhất là những gì vì đời ông đã yêu thương. Chợt quay quắt nhớ lời hẹn của Ông trong bài thơ Hẹn mãi mãi tinh khôi. Cứ như thể là lời Ông hẹn với đời. Cứ như thể là lời đời hẹn với Ông: Dù đã tắt ánh đèn Dù đã lặn mặt trăng Dù đã tàn hoa bưởi Em, ơi em! Cứ tới Riêng lòng anh vẫn đợi Như ngôi sao Vược giữa trời Kỷ niệm hai năm, ngày xa Ông Chú thích: - Nhan đề bài viết dẫn nguyên văn một câu thơ của Khương Hữu Dụng trong bài thơ Hẹn - Tất cả những từ in nghiêng trong bài viết được dẫn nguyên văn từ thơ Khương Hữu Dụng

Phùng Tấn Đông ĐÔI ĐIỀU VỀ VIỆC DỊCH THƠ ĐƯỜNG CỦA DỊCH GIẢ KHƯƠNG HỮU DỤNG

Trong sự nghiệp dịch văn học nước ngoài của nước ta từ xưa đến nay, có lẽ việc dịch thơ Đường là có “bề dày thành tích” hơn cả. Thơ Đường “là tất cả những tác phẩm sử dụng thanh vận, tiết tấu được viết ra trong khoảng ba trăm năm dưới triều đại nhà Đường ở Trung Quốc (618-907)” ( ). Sinh mệnh thơ Đường như vô hạn trước thời gian vì hơn một nghìn năm rồi thơ Đường vẫn sống “làm nên diện mạo đặc biệt của một giai đoạn văn học khởi sắc một thời và tỏa hương mãi mãi” (2). Đầu thế kỷ XX đến nay, thơ Đường đã được dịch khá nhiều ở Việt Nam. Một trong những dịch giả được nhắc đến sau những tên tuổi như Tản Đà, Trần Trọng Kim, Nhượng Tống, Ngô Tất Tố, chính là Khương Hữu Dụng (3). Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh và hai năm ngày mất của nhà thơ, chúng tôi lạm bàn đôi điều về dịch thơ Đường của ông, để qua đó chúng ta thêm trân trọng tài hoa của một nghệ sĩ suốt đời “tận hiến” tâm sức, tài năng cho thơ ở cả hai bình diện sáng tác và dịch thuật. Dịch thơ Đường, dịch từ Hán sang Việt là quá trình lao động nhọc nhằn vì đó là một công việc vừa mang tính khoa học vừa có tính nghệ thuật. Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ - trong kho từ vựng Việt Nam có khối lượng khá lớn tiếng Hán Việt và từ Hán Việt “là bộ phận quan trọng về cả số lượng và vai trò trong toàn bộ ngôn ngữ chung, nhất là ngôn ngữ văn hóa” ( ). Chữ Hán Việt ngày nay vẫn phát âm theo chữ Hán đời Đường do quan hệ giao tiếp nhiều đời, vì vậy “ta đọc hay ngâm thơ Đường gần như Lý Bạch, Đỗ Phủ ngâm thơ của mình và mỗi người Việt Nam đều có một bộ Đường vận trong lòng” ( ). Như vậy, trước tiên các dịch giả Việt Nam có thuận lợi ở chỗ rộng đường lựa chọn tuyến từ Hán Việt hay thuần Việt trong dịch thuật, sau đó là việc điều chỉnh thanh điệu, tiết tấu bài thơ dịch sao cho hài hòa với nguyên tác. Thật vậy, thơ Đường là lối thơ mà thanh vận, tiết tấu đều đạt mức tối ưu, cân đối và hài hòa. Thường với một dung lượng câu chữ tối giản, mỗi bài thơ đều dựng dậy những chiều kích biểu đạt phóng khoáng, thẳm sâu cả không gian lẫn thời gian. Thơ Đường mượn cái tĩnh để tả cái động, mượn cái hữu hạn để nói cái vô cùng và ngược lại. Có nhà nghiên cứu từng chỉ ra rằng với sự hiểu biết khoảng 800 từ trong từ vựng Đường thi, người ta có thể đọc được 500 bài thơ Đường, trong khoảng chừng 5 vạn bài thơ Đường mà người xưa lưu lại ( ). Chính sự hàm súc, cô đọng này khiến cho việc dịch thơ luôn đặt ra vấn đề, đó là việc nhiều bài thơ đã được dịch nhiều lần, nhiều người dịch với nhiều bản dịch khác nhau. Dường như ở mỗi thời kỳ - cái văn bản kia, tác phẩm chữ Hán ấy - vẫn như chưa hoàn nguyên ý nghĩa qua bản tiếng Việt, và dường như hiểu như thế là còn vẫn chưa đủ. Các dịch giả thơ Đường thường tranh luận về việc nên “trung thành” (tín) với nguyên ý hay trung thành với nguyên bản ( ). Tựu trung thì để một bản dịch hoàn hảo phải bảo đảm tiêu chuẩn: tín, đạt, nhã (Tín là bám sát câu chữ nguyên bản; đạt là ngôn ngữ bản dịch phải chững chạc trong khi diễn tả ý nghĩa của các câu văn trong nguyên bản; nhã là văn của bản dịch phải thanh nhã) mà người xưa đã đề ra. Trong tham luận nhân kỷ niệm “800 năm Bài ca Igor” do Hội Nhà văn Liên Xô (cũ) tổ chức tại Matxcơva năm 1985, Khương Hữu Dụng bộc bạch: “Những người dịch thơ Đường quá tập trung vào cái Thần của nguyên tác mà coi nhẹ câu chữ vì cái Thần của bài thơ không phải là bóng ma lang thang mà được gởi gắm với những tập hợp chữ nhất định”. Như vậy, với Khương Hữu Dụng phần nào ông đã nghiêng về việc chuyển dịch đúng câu chữ của nguyên tác, trung thành với nguyên bản. Tất nhiên chủ kiến của ông cũng có tính chất tương đối, bởi dù sao ông cũng có tố chất thi sĩ gần gụi với Tản Đà, Nhượng Tống, Hoàng Trung Thông, Lưu Trọng Lư… trong việc dịch thơ, vì một lẽ, với các nhà thơ - dịch giả, việc dịch có khi còn là một dạng sáng tác đặc biệt trên nguyên mẫu có sẵn. Khảo về nghệ thuật dịch của Khương Hữu Dụng, chúng ta có thể khởi đầu bằng bài tứ tuyệt Thục trung cửu nhật của Vương Bột (649-676): Mùng chín tháng chín ở đất Thục Cửu nguyệt, cửu nhật Vọng Hương đài Tha tịch, tha hương tống khách bôi Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khách Hồng nhạn na tòng Bắc địa lai? Bỏ qua chuyện dịch sát ý “mùng 9 tháng 9 lên đài Vọng Hương”, rồi “trên chiếu lạ giữa quê người, mấy chén tiễn khách” (Tha tịch tha hương tống khách bôi), ông dịch “thuần Việt” một cách cô đọng, trùng khít ý nghĩa, thanh điệu, âm vận câu thơ Đường “Cất chén, quê người tiễn bước ai”, câu tiếp là một đảo ngữ dường để tăng sức nặng của nỗi sầu khổ, lòng người đã chán cảnh khổ ở Nam Trung, vậy mà cớ chi chim hồng nhạn từ phương Bắc còn bay đến đây làm gì “Nỗi khổ Nam Trung lòng đã chán - Nhạn hồng đất Bắc xuống chi đây?”. Hai câu cuối, phép phác diễn và đối lập của thơ Đường đã được ông chuyển ngữ một cách gọn ghẽ, phác cảnh gợi tình, mượn hiện tại để nói quá khứ, mượn sự động để nói cái tĩnh, cái nỗi niềm “đào sâu chôn chặt” của kẻ bị biếm trích trên đất Thục của thi nhân Vương Bột. Với bài Đào hoa khê (Suối hoa đào) của Trương Húc (675-750), hai câu cuối bài tứ tuyệt “Đào hoa tận nhật tùy lưu thủy - Động tại thanh khê hà xứ biên”, ông dịch nương theo ý mà lược hai từ “tận nhật” (suốt ngày) trong câu “suốt ngày hoa đào trôi theo dòng nước” để dịch “Hoa đào trôi mãi theo dòng nước - Động ở bên nào mé suối trong”. Bài Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư (705- ?), ông dịch những câu thơ xuất thần “diễm diễm tùy ba thiên vạn lý. Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh” (lấp loáng sóng trôi muôn ngàn dặm- có nơi nào trên sông là không sáng trăng) thành hai câu tuyệt bút “Dờn dợn vời theo muôn dặm sóng. Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng”. Đặc biệt, trong bài thơ dài này (36 câu) ông bám sát nguyên vận, bằng, trắc của bài, chẳng hạn như ở đoạn kết: … Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa Khả liên xuân bán, bất hoàn gia Giang thuỷ lưu xuân khứ dục tận Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân quy Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ (Đêm qua thanh vắng mơ theo hoa rơi, đáng thương cho người đã nửa mùa xuân mà chưa về nhà, nước sông trôi xuôi xuân đi sắp hết, trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây. Trăng xế chìm dần dần trong sương mù mặt bể, núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng, chẳng biết nhân ánh trăng đã mấy người về, trăng lặn rung rinh mối tình những cây đầy sông). Khương Hữu Dụng dịch: … Đêm qua thanh vắng mộng hoa rơi Nhà chửa về, xuân quá nửa rồi Nước cuốn xuân đi, trôi sắp hết Vòm sông trăng lại, xế sang đoài Trăng khuất mù khơi chìm chầm chậm Dòng Tương, non Kiệt ngàn muôn dặm Nương trăng mấy kẻ nhớ về theo Trăng lặn xao tình cây nước gợn Bút lực dịch của ông cũng uyển chuyển theo cái “thần” của bài thơ trong việc chọn thể thơ sát hợp. Có thể so sánh hai bản dịch bài Tiễn bác Lương Lục (Tống Lương Lục) của Trương Duyệt (661-730): Ba Lăng nhất vọng Động Đình thu Nhật kiến cô phong thuỷ thượng phù Văn đạo thần tiên bất khả tiếp Tâm tuỳ hồ thuỷ cộng du du (Từ Ba Lăng trông ra hồ Động Đình đầy màu thu. Ngày ngày thường thấy ngọn núi trơ vơ nổi trên mặt nước. Nghe nói có thần tiên trên quả núi trong hồ mà không gặp được. Lòng ta cứ man mác theo dòng nước hồ mông mênh). Nguyễn Hữu Bổng dịch lục bát: Ba Lăng trông đến Động Đình Giữa hồ trái núi một mình nhấp nhô Thần tiên biết ở nơi mô Lòng theo mặt nước hồ thu dàu dàu Khảo bản dịch của Nguyễn Hữu Bổng, ta thấy dịch giả lược qua ý “đầy màu thu” ở câu đầu, ý “nghe nói có thần tiên mà không gặp được” ở câu ba. Bản dịch của Khương Hữu Dụng đầy đặn và giàu mỹ cảm hơn: Ba Lăng trông suốt Động Đình Màu thu bát ngát nước dềnh non côi Cõi tiên không bén gót người Tấm lòng theo nước hồ trôi lững lờ Xưa nay bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu (?-754) đã có bản dịch lục bát được xem tuyệt là tác dịch thuật của Tản Đà thế nhưng trong các công trình dịch về sau, các nhà tuyển chọn thường tuyển thêm bản dịch của Khương Hữu Dụng: Ai cỡi hạc vàng đi mất hút Trơ lầu hoàng hạc chốn này thôi Hạc vàng một đã đi đi biệt Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi Bản của Khương Hữu Dụng sát với nguyên thể, nguyên vận, thanh điệu, tiết tấu “tương thích” với nguyên bản. Khương Hữu Dụng có những từ “độc sáng” như “ửng”, “ngời”, “tá”, “não” trong “Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng/Cỏ thơm Anh Vũ bão xanh ngời/Hoàng hôn về đó quê đâu tá/Khói sóng trên sông não dạ người” Nhà văn Nguyên Ngọc -theo trí nhớ của người viêt bài này- đã có lần khen bút pháp thâm hậu của Khương Hữu Dụng khi chọn dịch những bài thơ về nỗi lòng kẻ sĩ bị thế thời bạc đãi, những cảnh huống chiến tranh ly loạn, nỗi khổ của những cô gái dệt lụa, chàng trai bị bắt lính, nỗi đói khát của người nông dân bị “thuế thúc, quan dồn” đặc biệt là nỗi hổ thẹn của bậc túc nho làm quan hưởng lộc mà tự thấy mình không xứng với chức phận. Trong bài Ngày mùng 7 tháng Giêng gởi Đỗ Phủ của Cao Thích (702-765), ở sáu câu cuối: Kim niên nhân nhật không tương ức Minh niên nhân nhật tri hà xứ Nhất ngọa Đông Sơn tam thập xuân Khởi tri thư kiếm lão phong trần Long chung hoàn thiểm nhị thiên thạch Quý nhĩ đông tây nam bắc nhân” Khương Hữu Dụng dịch: Năm nay mùng 7 nhớ ai đây Năm sau mùng 7 rồi đâu nhỉ Một ẩn Đông Sơn ba chục năm Biết đâu thư kiếm dạn phong trần Thẹn mình luống tuổi lương cao hưởng Bạn bốn phương trời một tấm thân Hai câu có ý: lọm khọm rồi mà còn lạm hưởng hai nghìn thạch thóc lương. Thật đáng thẹn với bác là người của đông tây nam bắc, dịch thành “Thẹn mình luống tuổi lương cao hưởng/Bạn bốn phương trời một tấm thân” thật là sát hợp trúng ý của “kẻ sĩ đau đời” Cao Thích. Khương Hữu Dụng có những câu dịch đầy sáng tạo, ông dồn chặt ngữ nghĩa câu thơ dịch trong một tập hợp vốn đã nén chặt, tối giản, khái quát cao độ của câu thơ Đường ví như câu “Hoàng hôn độc toạ hải phong thu” (Trời thu gió bể một mình ngồi dưới bóng hoàng hôn) trong Bài hát tòng quân (Tòng quân hành) của Vương Xương Linh (698-757). Khương Hữu Dụng dịch “Quanh mình gió bể bóng chiều thu”. Hai câu “Tam Thương sầu mấn phùng thu sắc/Vạn lý quy tâm đối nguyệt minh” (Ở Tam Thương buồn bạc cả đầu, lại gặp cảnh thu tới, lòng mong về nhà xa xôi nghìn dặm giãi cùng ánh trăng) ở bài Đêm đậu thuyền ở bến Ngạc Châu của Lư Luân (748-800). Ông dịch “Tam Thương thu nhuốm sầu pha tóc - Muôn dặm lòng về sáng với trăng”. Ở các bài thơ dài, vần trúc trắc để chỉ nỗi gian nan, cực nhọc của các cảnh huống, ông luôn có cách dịch mô phỏng thanh điệu tài tình. Ở bài Binh xa hành của Đỗ Phủ (712-770), đoạn thơ có ý “Rõ thật sinh con trai là vô phúc, sinh con gái lại hóa hay, sinh con gái được gả chồng gần, sinh con trai chỉ tổ vùi thân trong đám cỏ” nói cảnh người dân bị quan quân bắt con đi chiến trận, ông dịch: “Mới biết sinh con trai, chẳng bằng sinh con gái. Sinh con gái được gả gần nhà. Sinh con trai lấp vùi theo cỏ dại”. Tài năng “tóm ý, định thần” bài thơ, câu thơ để dịch của Già Khương có thể nói đó là một sáng tác, một kiểu “đồng sáng tạo” để đạt đến một văn bản chuyển ngữ chân xác lượng - tin - thẩm -mỹ của tác phẩm. Có thể kể thêm ở bài Tiễn Thị Lang họ Lý đi Thường Châu của Giả Chí (718-772), câu “Kim nhật tống quân tu tận tuý - Minh triêu tương ức lộ man man” (Hôm nay tiễn anh nên uống thật say, sớm mai nhớ nhau đường dài man mác), Khương Hữu Dụng dịch: “Còn bữa này thôi say tuý lúy - Nhớ nhau mai lại cách muôn vàn”. Hay như bài Khê cư (Sống bên suối) của Liễu Tông Nguyên (773-819): “Cửu vi trâm tổ thúc- Hành thử Nam di trích- Nhàn y nông phố lân- Ngẫu tự lâm sơn khách” (Lâu ngày bị đai mũ bó buộc, nay được đày xuống nơi hoang rợ phương Nam, an nhàn sống với những người làm ruộng, ngẫu nhiên như khách ở núi rừng), Khương Hữu Dụng dịch: Lâu ngày đai mũ trói Đày xuống Nam càng khoái Vườn ruộng thảnh thơi kề Bỗng như người khách núi Bài Con chuột trong kho thóc nhà nước của Tào Nghiệp (816-?) có cước vận trắc “Con chuột to bằng cái đấu, thấy người mở kho cũng không trốn chạy, quân lính không có lương ăn, trăm họ đói, ai cho ngày ngày đổ vào mồm mi”, ông dịch: Chú chuột kho quan bằng cái đấu Thấy người mở kho cứ đứng ngó Lính chẳng lương ăn, dân đói meo Ai để ngày ngày vào miệng chú? Tất nhiên không phải bản dịch nào của Khương Hữu Dụng cũng đạt đến mức hoàn hảo. Có khi ông vì dịch thoát ý mà bỏ ngữ nghĩa vốn hàm ý của câu chữ như ở bài Đề nhà riêng họ Viên: “Chủ nhân bất tương thức - Ngẫu toạ vị lâm tuyền - Mạc mạn sầu cô tửu - Nang trung tự hữu tiền” (Chủ nhân không quen biết ta, ngẫu nhiên ta đến ngồi đây vì thích rừng suối, đừng lo hão vì chuyện mua rượu, trong túi rồi tự khắc có tiền). Cái hàm ý “vô vi”, phóng dật kiểu Trang Chu của Hạ Tri Chương (659-744) trong hai câu cuối, Khương Hữu Dụng dịch hơi uổng vì chưa đạt lý: “Lo gì rượu chẳng ai mời - Sẵn tiền trong túi mua thời cứ mua”. Điểm qua những bản dịch thơ Đường của Khương Hữu Dụng để chúng ta càng hiểu thêm tài năng và đức độ của Già Khương. Lạ một điều ông thường chọn những bài buồn của thơ Đường để dịch nhưng đó là nỗi buồn của kẻ sĩ muôn đời trước những ngang trái bất công vốn dĩ có gì đó là thường hằng của “thế sự mang mang nan tự liệu” (Việc đời ngổn ngang không thể tự mình định liệu) mà Vi Ứng Vật từng bộc bạch. P.T.Đ


Mình là Khánh, người sáng lập nghengu.vn – nơi chia sẻ niềm yêu thích với tiếng Nghệ, tiếng Việt và những phương ngữ đa dạng. Mình mong muốn lan toả vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ đến nhiều người hơn. Nếu thấy nội dung hữu ích, bạn có thể ủng hộ bằng cách donate hoặc mua sản phẩm giáo dục qua các liên kết tiếp thị trong bài viết.

Cảm ơn bạn đã đồng hành!

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
đọc sách online https://xemthoitiet.com.vn https://thoitiet24.edu.vn RR88 RR99 RR99 fun88 เข้าระบบ Fun88 nhà cái uy tín kèo nhà cái 5 TOPCLUB NK88 xem bóng đá RR99 88xx Hay88 s8 win678 x88 79king ssc88 Cm88 Cm88 https://kubetics.com CM88 trực tiếp bóng đá xoilac https://open88s.com/ MAX88 C168 game bài https://keonhacai55.biz/ Ok365 ufabet ufabet Luck8 Sv388 https://xin88.global/ Xoilac Kèo bóng đá Socolive TV Link nbet KJC XX88 Socolive 78WIN KJC ok9 789bet OK9 COM okvip okvip new888 xoso66 Vin777 king88 king88 88VV Xoilac TV Live trực tiếp Cakhia TV Nohu90 Xoilac TV Socolive https://hz88.za.com https://rs88.in.net https://tt8811.net https://789pai.com https://nk88.eu.com https://win678.de.com https://kl999.net https://e8kbet.net/ OPEN88 COM https://mmoo.com.de go88 Go99 68vip c168 com five88 ggwin oxbet one88 xo88 33WIN FIVE886 https://playta88.com/ Bongdalu