Nhịp điệu trong thơ trữ tình
Trong nhạc phẩm Tình khúc Ơbai, Trịnh Công Sơn đã viết:
“Tôi đi bằng nhịp điệu một, hai, ba, bốn, năm…
Em đi bằng nhịp điệu sáu, bảy, tám, chín, mười…
Ta đi bằng nhịp điệu, nhịp điệu không giống nhau
Ta đi bằng nhịp điệu nhịp điệu sao khác màu …”
Đó là sự khác nhau trong nhịp điệu, trong sắc màu cuộc sống. Bước chân của tôi, của em, của ta làm sao để có thể hòa nhịp giữa cõi vô thường … Những ca từ của Trịnh Công Sơn thật dung dị mà minh triết. Cũng như nhịp điệu cuộc sống, nhịp điệu thế giới thơ ca vô cùng phong phú. Nhận diện nhịp điệu trong thơ trữ tình còn là những trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học.
1. Khái niệm về nhịp điệu trong thơ
Cũng như “Thơ là gì ?”, cho đến nay câu hỏi nhịp điệu trong thơ là gì thường còn mang tính chất cảm nhận của cá nhân. Theo Tự điển tiếng Việt cuả nhóm tác giả Minh Tân - Thanh Nghi - Xuân Lãm do nhà xuất bản Thuận Hóa, 1998) thì nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm mạnh và nhẹ sắp xếp theo những hình thức nhất định. Theo GS TS Mã Giang Lân trong Nhịp điệu thơ hôm nay đăng trên Văn học nghệ thuật Đà Nẵng (nguồn google.com): “Theo nghĩa rộng nhất, nhịp điệu là hình thức phân bố trong thời gian những chuyển động nào đó, như vậy có thể nói về nhịp điệu của bất kỳ sự chuyển động, trong đó có âm thanh của bất kỳ thứ ngôn ngữ nào chúng ta nghe được mà không cần hiểu nghĩa. Nhịp điệu thể hiện tính chất đều đặn của chuyển động, sự cân đối của những độ dài về thời gian hay sự luân phiên dưới dạng chuyển động âm thanh (Ở đây không tính đến khái niệm nhịp điệu thường được áp dụng vào các quá trình sinh lý như thở, mạch đập của tim và những chuyển động như đi bộ...)”.
Tiến sĩ Phan Huy Dũng trong “Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình” (Giáo trình giảng dạy cho học viên cao học) không đưa ra khái niệm về nhịp điệu mà chỉ nêu vai trò, chức năng của nhịp điệu trong việc tổ chức một bài thơ trữ tình:“là nghệ thuật thời gian, cũng như âm nhạc, văn học nói chung cũng như thơ trữ tình nói riêng bao giờ cũng quan tâm tới vấn đề nhịp điệu”.
Trong bài Mấy ý nghĩ về thơ (1949), Nguyễn Đình Thi quan niệm: "Nhịp điệu của thơ không những là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lên bổng xuống trầm của tiếng đàn bên tai (...). Thơ có một thứ nhạc nữa, một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn (...). Đó là nhịp điệu thành hình của những cảm xúc, hình ảnh liên tiếp hòa hợp mà những tiếng và chữ gợi ra như những ngân vang dài, ngay những khoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động". (GS TS Mã Giang Lân, Nhịp điệu thơ hôm nay đăng trên Văn học nghệ thuật Đà Nẵng (nguồn google.com).
Maiacốpxki cho rằng: “Nhịp điệu là sức mạnh chủ yếu, là năng lượng của câu thơ”… Vậy thì có thể hiểu một cách đơn giản nhịp điệu như là sự rung động tâm hồn, là mạch cảm xúc được thể hiện ngoài lớp vỏ ngôn từ, tạo tác động, ấn tượng lên tâm thức người tiếp cận tác phẩm để thực hiện chức năng thông tin thẩm mỹ. Nói nhịp điệu trong thơ là sự chia cắt dòng âm thanh, sự phân đoạn câu thơ, dòng thơ giúp người đọc cảm thụ một cách trực tiếp. Mở rộng ra thì nhịp điệu trong thơ là một khái niệm chỉ một đơn vị ngôn ngữ nằm bên trong bản thân kiến trúc ngôn từ và qui định kiểu kiến trúc ấy, được khu biệt về quy tắc tổ chức âm thanh, là nhân tố vận động cả ở phương diện ngữ nghĩa và âm thanh. Nhịp điệu thay đổi tạo nên cảm giác lời thơ vận động nghệ thuật theo quy luật chủ quan của chủ thể sáng tác đồng thời tác động đến tâm lý tình cảm của chủ thể tiếp cận theo chức năng thông tin thẩm mỹ.
2. Vai trò và chức năng của nhip điệu trong thơ
Nếu không có nhịp điệu, sẽ khó có sự nhận thức đúng, về nội dung ý nghĩa của chuỗi âm thanh, chuỗi ngôn từ phát ra trong thời gian dài. Mạch cảm xúc có thể vô tận trong đời thơ của nhà nghệ sĩ nhưng lại có giới hạn trong bài thơ. Người ta không thể đọc bài thơ liên tục từ những từ ngữ đầu tiên đến kết thúc mà không ngừng nghỉ. Nhịp điệu gắn liền với chỗ ngừng, chỗ ngắt được phân bố hợp lý theo mạch cảm xúc để diễn đạt nội dung thẩm mỹ.
Nhịp điệu trong thơ được quy định qui ước chung của thể loại, song mặt khác lại tự vận động theo mạch cảm xúc riêng tạo nét chấm phá trong ý thơ. Ví dụ trong bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến, câu thơ thát ngôn bát cú Đường luật thường ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3, thế nhưng nếu tuân thủ lối nhịp điệu truyền thống ấy thì câu thơ thứ nhất sẽ hạn chế về nét nghĩa, về tứ thơ mà chỉ giữ chức năng thông tin về sự hội ngộ. Trong câu “Đã bấy lâu/nay bác tới nhà”, “lâu nay” không còn là một từ ghép đẳng lập thông thường nữa mà được tách thành hai khái niệm chỉ thời gian. “Lâu” là quá khứ, là niềm mong đợi thiết tha, “nay” là hiện tại, là niềm vui mừng khôn xiết trong cuộc hội ngộ đầy bất ngờ tạo. Nhịp thơ chuyển sang ¾ đầy sáng tạo. Nhịp 4 “nay bác tới nhà” như tiếng reo vang vừa hồ hởi, vừa thú vị. Hình thái nhịp điệu hiện thực hoá cấu trúc ý thơ, tứ thơ, tạo nên nhạc điệu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều bài thơ trong âm hưởng tự nhiên của nó đã tạo nên nhạc điệu. Trong bài thơ Ngậm ngùi của Huy Cận, chỉ đọc mấy câu thơ, người đọc chừng như nghe được tiết tấu nhặt khoan, giai điệu trầm bổng du dương : “Cây dài bóng xế ngẩn ngơ/ Hồn em đã chín mấy mùa thương đau ? / Tay anh em hãy tựa đầu,/ Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi …” (Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân, trang 131). Hay đến với Phạm Thiên Thư trong Ngày xưa Hoàng Thị, những câu thơ bốn chữ như nhịp guốc ai vang vọng, nhẹ nhàng sâu lắng, như tiếng nhạc giữa đường chiều: “Em tan trường về/ Cuối đường mây đỏ/ Anh tìm theo Ngọ/ Dáng lau lách buồn/ Tay nụ hoa thuôn/ Vương bờ tóc suối” (Phạm Thiên Thư).
Nhà thơ P.Êluya nói: “Thơ ca trước tiên là ngôn ngữ cất thành tiếng hát… ngôn ngữ hát lên, ở nó tràn đầy hi vọng, ngay cả khi nó hát những điều thất vọng”. Đó chính là tính nhạc trong thơ ca.
Theo Trần Thiện Khanh trong Nguyên lý cấu trúc của thơ (nguồn google.com) cho rằng: “Nhịp điệu trở thành ngôn ngữ đặc biệt của thơ, nó biểu hiện được bao ý tình mà từ ngữ không thể nói hết được. Nhịp điệu - một khi được cảm xúc hoá, cá tính hoá sẽ mài sắc cảm nhận, cảm giác của người đọc. Đọc bài thơ giàu tính nhạc, người đọc như được sống trong cảm giác mới mà trước đó chưa từng biết”. Cảm nhận được nhịp điệu của thơ sẽ tạo nên sự khám phá mới, thú vị.
Nhịp điệu trong thơ làm tăng thông tin thẩm mỹ của bài thơ. Nhịp điệu của thơ bao hàm các yếu tố giai điệu (trầm - bổng), tiết tấu (mau - thưa), nhạc điệu (tính nhạc của thơ), ngắt trong câu, dấu câu, ngừng hết câu, dòng thơ, nhấn (từ láy, vần, từ Hán -Việt, điệp từ, từ địa phương ...) Nhịp điệu trong tác phẩm có thể được xem như một dạng từ đa nghĩa, một dạng từ đặc biệt không tồn tại trên cơ sở vỏ vật chất của từ ngữ, không tồn tại trong lớp vỏ âm thanh mà vẫn có nghĩa. Đặc biệt là lớp nghĩa tồn tại trong tư duy, trong cảm thức của người tiếp cận văn bản và mang giá trị biểu cảm sâu sắc. Nhịp điệu trong câu thơ là khoảng lặng không lời mà lại diễn đạt nhiều cảm xúc. Nhịp điệu không chỉ tách ý tách nghĩa mà còn thể hiện thế giới nội tâm của nhà thơ, thể hiện những cảm xúc được dấu kín, dè nén, mà không thể tìm thấy trong ngôn từ, trong âm thanh. Trong tập thơ Việt Bắc, Tố Hữu có viết: “Áo chàm đưa buổi phân ly/ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.” (Việt Bắc)
Cách ngắt nhịp 3/3 - 3/5 phá vỡ giai điệu truyền thống 2/2/2 - 4/4 nhẹ nhàng êm ái quen thuộc trong lục bát để tạo nên một nét nhấn, một phá cách độc đáo thể hiện sự dằn xé, day dứt trong nội tâm người đi và kẻ ở trong cuộc chia ly, càng tô thêm nỗi da diết luyến lưu để thể hiện tình cảm sâu lắng, khắng khít của người lính cụ Hồ với đồng bào dân tộc trong những ngày tháng bên nhau nơi chiến trường Việt Bắc. Đó là những cung bậc tình cảm không mô tả bắng lời, và chính người tiếp cận phải có một khả năng tư duy văn học mới cảm nhận được dụng ý người viết.
3. Tín hiệu nhận diện nhịp điệu trong thơ
Nhìn trên tổng thể có thể chia nhịp điệu thành 2 loại sau:
- Nhịp điệu được thực hiện qua các dấu câu, dòng thơ, câu thơ.
- Nhịp điệu thực hiện không thông qua dấu câu (nhịp thơ, vần, từ láy, từ Hán - Việt…).
3.1. Tín hiệu để nhận diện nhịp điệu thông qua dấu câu, dòng, câu thơ
Đây là một tín hiệu hình thức dễ nhận biết, dễ cảm thụ. Trong Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu Trung học cơ sở do Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Đỗ Ngọc Thống, Nxb Giáo dục, 1997, có viết “Nhà văn Tô Hoài coi dấu câu là một loại từ, là hình thức của chữ trong tác phẩm ...” (Sđd - trang 46).
3.1.1. Dấu câu: Nhiệm vụ của dấu câu là để tách tách nghĩa, tách dòng, tách khổ của câu thơ, bài thơ. Dấu câu còn là một phương tiện hữu hiệu để thực hiện “sự im lặng không lời” (Sđd-46) mà còn tạo nên “ý tại ngôn ngoại”, gợi ra biết bao điều mà từ không nói hết.
Trong bài thơ Sa-Na của Kim Nhường (Bài thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ Bút Mới do báo Tuổi Trẻ tổ chức lần thứ 5) có những câu thơ:
«Mai chị về phồ rồi, Sa-na
Mà thôi …
Em đừng tiễn nhé !
Gió Trà Vinh còn sợi nào thật khẽ
Vương bên ngoài lớp học chiều nay ?»
(Kim Nhường)
Các dấu câu kết hợp nhau tạo nên nét duyên dáng trong nhịp điệu khổ thơ. Câu 1 nhịp 5/2, mà 5 tiếng đầu đi liền nhau như một lời trần tình, lời thông báo một cuộc chia ly và đọng lại trong nhịp 2 tiếng gọi thân thương qua tên của người học trò nhỏ Sa-Na tạo sự ngân vang một cái tên trìu mến. Đến câu thứ hai thì chính dấu ba chấm (...) là sự im lặng không lời, là sự xúc động mãnh liệt nên mọi lời nói trở nên nghẹn tắt. Không cần khai thác ngữ nghĩa của từ “mà thôi” thì chính dấu (...) cũng đủ để cảm nhận những xung động mãnh liệt trong lòng nhân vật trữ tình một sự ngập ngừng nuối tiếc, luyến lưu... Câu thơ thứ 4 kết thúc trong dấu chấm hỏi (?) là một dạng câu hỏi tu từ khơi gợi cảm xúc của người đọc để biến những ngọn gió vô hình thành hữu hình “sợi nào thật khẽ” cứ vương vướng chân người sắp cất bước chia xa.
Bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao ở cuối nhiều đoạn thơ đếu kết thúc bằng dấu chấm hỏi (?) tạo nên hình tượng sâu xoáy trong lòng người đọc một tình cảm thủy chung son sắt của đôi lứa:
- “Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng ?”
- “Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông ?”
- “Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này ?”
(Thơ Việt Nam 1945-1985, Nhà xuất bản Văn học, 1985)
Trong bài thơ Theo chân Bác, nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những cảm xúc thiêng liêng đến tận cùng của của một người sau 30 năm xa Tổ quốc:
“Bác về ... Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ...”
(Tố Hữu)
Dấu (...) và dấu chấm (.) ngắt câu thơ thành 3 nhịp thơ riêng để diễn tả ba cảm xúc tưởng như khác biệt nhưng thống nhất trong câu thơ. Dấu (...) là tình cảm thiêng liêng, là sự xúc động đến bâng khuâng, bồi hồi, là những cảm xúc xao xuyến của người con trở về với Tổ quốc thân yêu. Dấu chấm sau từ “im lặng” để tách ra hai tâm trạng, hai thế giới: - Một thế giới của nội tâm xúc động và hân hoan của người con trở về với đất nước thân yêu; - Một thế giới ngoại cảnh tách biệt nhưng thống nhất trong giữa con người và thiên nhiên cùng hòa chung niềm vui ngày trở về.
Đối với dấu gạch ngang (-) Dấu gạch ngang phân nhịp điệu trong thơ thành hai phần (đẳng lập hoặc chú thích). Dấu (-) tạo quãng nghỉ và tác động đến thị giác người đọc sự chú ý làm tăng thêm ý nghĩa thẩm mỹ: “Đầu mùa xuân cùng em đi lễ/ Lễ chùa này - vườn nắng tung bay/ Và ngàn lau - vàng màu khép nép/ Bãi sông bay - một con bướm đẹp.” (Em lễ chùa này - Phạm Thiên Thư)
Trong hệ thống dấu câu, thì dấu hỏi (?) và dấu chấm cảm (!) luôn tạo ấn tượng và làm cho nhịp thơ ngưng đọng trong lòng người đọc những cung bậc tình cảm sâu lắng : “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời !” (Tây tiến - Quang Dũng).
Dấu chấm cảm (!) trong dòng thơ trên là niềm cảm xúc dạt dào, là sự lắng đọng, kết tinh của nỗi thống thiết, nghẹn uất, là khoảng nghỉ u uất, đọng trong lòng người đọc thành nỗi bi thương.
3.1.2. Dòng thơ
Nói đến nhịp điệu thơ phải nói đến sự chia cắt dòng âm thanh giúp cho người đọc cảm thụ một cách trực tiếp. Nhịp điệu trong thơ có thể hiện sự phân đoạn câu thơ, dòng thơ, tạo quãng nghỉ để cảm được nhịp điệu của bài thơ, nhờ đó mà hiểu thêm tứ thơ. Trong bài Màu tím hoa sim, Hữu Loan đã tạo những dòng thơ độc đáo:
Màu tím hoa sim
tím
chiều
hoang
biền
biệt.
(Theo Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Đỗ Ngọc Thống, Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu Trung học cơ sở , Nxb Giáo dục, 1997, trang 47)
Câu thơ được xé thành 6 dòng thể hiện một sự vỡ vụn, tan nát, là tâm trạng nghẹn tắc, đứt đoạn tưởng chừng như không gian vỡ vụn dưới chân, sắc tím màu hoa sim như những vết loang lỗ, như những mảnh vỡ của không gian, của thời gian, như cõi lòng tan tác và sắc chiều kia trở nên biền biệt, xa xăm hư ảo. Sự phân câu thơ thành những dòng tạo nhịp thơ như chùng hẳn lại để người đọc gậm nhấm tâm trạng đau khổ đến tột cùng của nhân vật trữ tình.
Chia thơ ra thành dòng không chỉ là tách ý, chuyển ý mà thuộc cách tổ chức tứ thơ, vần nhịp. Nhờ sự phân chia thành từng dòng thơ mà nội dung tư tưởng, tâm trạng, thái độ của nhân vật trữ tình được thể hiện đầy đủ. Trong bài thơ Lời Kỹ nữ, Xuân Diệu (Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh-Hoài Chân, trang 115) có cách sử dụng dâu câu, dòng thơ khơi gợi cảm xúc tiếc nuối xa vời:
“Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.
Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.
Du khách đi.
- Du khách đã đi rồi.”
(Ngày Nay)
Mỗi bước chân người du khách xa dần để lại cả nỗi nhớ nhung tiếc nuối, đó là tâm trạng cô đơn của con người. Cái biên giới của chuyện gió trăng vay mượn kia không còn nữa, mà nỗi niềm khao khát hạnh phúc của đời người cứ dàn trải, lan dần trong dòng kết bài thơ.
3.1.3. Câu thơ: Bên cạnh dòng thơ còn là câu thơ cũng góp phần tạo nên nhịp điệu của bài thơ trữ tình. Bài thơ Sương rơi của Nguyễn Vỹ theo Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam nhận định: “Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để miêu tả một cái gì đương rơi. Cái gì đó có thể là giọt sương, cũng có thể là những giọt lệ hay những giọt gì vẫn rơi đều đều, chậm chậm trong lòng ta mỗi lúc vẩn vơ buồn ta đứng lặng một mình trong lặng lẽ.” (trang 93)
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Viết trẻ trung hay trẻ chung mới đúng? Mẹo phân biệt trung và chung
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị
-

Tổng hợp những bài thơ tình Xuân Diệu lãng mạn nhất – Vũ trụ yêu thương trong thi ca








