Tìm hiểu truyện thơ dân gian là gì?

Thứ ba - 27/01/2026 20:05

Truyện thơ dân gian là gì?

Truyện thơ là những truyện kể dài bằng thơ, có sự kết hợp giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình, phản ánh cuộc sống của người nghèo khổ, khát vọng về tình yêu tự do, hạnh phúc và cộng lí xã hội.

Truyện thơ dân tộc là một thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự, bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, được kể, được hát, được ngâm, đọc (kể cả trước và sau khi đã được ghi chép) và thường có nội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống lứa đôi.

Lịch sử truyện thơ dân gian Việt Nam

Lịch sử công bố truyện thơ dân gian các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được bắt đầu vào nửa cuối những năm 50 của thế kỉ XX. Tác phẩm nào có vinh dự được công bố đầu tiên? Đó là truyện thơ Thái Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu).

Đặc trưng thi pháp của truyện thơ dân gian

1. Cốt truyện truyện thơ dân gian

Cốt truyện thơ đa dạng, không thuần nhất. Có thể có ba dạng cốt truyện: Cốt truyện theo kiểu diễn ca, vè lịch sử ; cốt truyện theo kiểu cốt truyện cổ tích và cuối cùng là cốt truyện tâm trạng. Loại cốt truyện theo kiểu diễn ca lịch sử là các truyện: Đại Hành và Bàn Đại Hội, Táy Pú Xớc. Loại cốt truyện này không tập trung xây dựng một nhân vật nào trọng tâm mà chỉ chú ý đến sự kiện, tình tiết, diễn biến của sự kiện ít nhiều gắn với thời gian lịch sử. Loại cốt truyện kiểu cổ tích như truyện: Chim sáo, nàng Kim Quế, Nàng Con Côi...cốt truyện của truyện thơ mở rộng phạm vi, cụ thể và chi tiết hơn cốt truyện cổ tích. Cổ tích “Chim sáo” chỉ giới hạn trong phạm vi làng quê còn ở truyện thơ câu chuyện mở rộng ra phạm vi quốc gia, triều đình vì thế chủ đề của truyện thơ được mở rộng và khai thác sâu hơn. Loại cốt truyện tâm trạng như truyện: “Sống chụ xon xao” (Tiễn dặn người yêu), “Nam Kim -Thị Đan, nàng Ờm - chàng Bồng Hương, nàng Dợ - Chà Tăng, Út Lót - Hồ Liêu, nàng Nga - Hai Mối...Cốt truyện loại này xoay xung quanh chuyện tình của đôi trai gái theo ba giai đoạn chủ yếu: - Đôi bạn tình yêu nhau tha thiết - Tình yêu tan vỡ, khổ đau - Đôi bạn tình tìm cách thoát ra cảnh ép buộc ngang trái để xây dựng hạnh phúc cho mình. chuyện xoay quanh diễn biến tâm trạng của hai đối tượng, hai nhân vật chủ chốt là chàng trai và cô gái.

2. Đặc trưng nhân vật truyện thơ dân gian

Nhân vật trong truyện thơ có hai dạng. Dạng thứ nhất là nhân vật tự bạch. Ngôi thứ nhất, cái tôi trữ tình và dạng thứ hai là ở ngôi thứ ba, nhân vật được nhắc đến của người kể chuyện. Dạng thứ nhất, nhân vật trữ tình tự bạch là dạng nhân vật tâm trạng. Trong truyện thơ “Vượt biển” (còn có tên là “Pha thuyền”), tác giả dân gian để cho nhân vật tự kể về cuộc đời mình:

Tôi thấy cay cho phận tôi lắmTôi thấy đắng cho phận tôi nhiều ...

Dạng thứ hai là nhân vật qua lời kể của tác giả. Dạng này có hai loại. Loại thứ nhất là nhân vật tâm trạng - trữ tình. Tác giả nhập thân vào hai nhân vật nam nữ để thể hiện vai giao tiếp. Đây là lời chàng trai nói với người yêu đi lấy chồng trong “Tiễn dặn người yêu”:

Xin hãy cho anh kề vóc mảnhQuấn quanh vai ủ lấy hương ngườiCho mai sau lửa xác đượm hơiMột lát bên em thay lời tiễn dặn.

Loại thứ hai là nhân vật tự sự - trữ tình. Đây là nhóm truyện thơ kế thừa truyện cổ dân gian. Nhân vật được phản ánh với nhiều mối quan hệ, với nhiều nhân vật chứ không phải như loại nhân vật trữ tình - tâm trạng chỉ xoay quanh quan hệ với người yêu là chủ yếu.

Nhân vật của truyện thơ là nhân vật xây dựng theo phương thức hiện thực khác với nhân vật sử thi xây dựng theo phương thức lãng mạn. Hoàn cảnh, tính cách, tâm trạng của nhân vật truyện thơ được lấy từ cuộc đời chứ không phải nhân vật tưởng tượng ra như trong nhân vật sử thi thần thoại hay tô vẽ thêm như trong nhân vật sử thi anh hùng. Chung quy lại, nhân vật truyện thơ có hai kiểu: kiểu nhân vật của cổ tích và kiểu nhân vật trữ tình của dân ca đối đáp giao duyên. Dù là mang phong cách nhân vật cổ tích nhưng nhân vật trong truyện thơ thể hiện tính cách rõ hơn. Ở cổ tích, nhân vật phiếm chỉ thì ở truyện thơ, nhân vật có tên tuổi, có lý lịch rõ ràng. Chẳng hạn, trong truyện cổ tích “Chim sáo” chỉ nói “có một bác nông dân rất nghèo”, thì ở truyện thơ “Chim sáo”, truyện kể rõ đó là chú bé Trương Anh con của Trương Tam và Trương Thị. Nhân vật trong truyện cổ chỉ đối đáp ngắn gọn, thì nhân vật trong truyện thơ đối đáp dài, rành mạch hơn. Bước đầu việc cá thể hóa trong việc xây dựng nhân vật trong truyện thơ là điểm mới và là sự phát triển đột phá so với cách xây dựng nhân vật theo lối phiếm chỉ và khái quát hóa của cổ tích. Vì vậy tính hiện thực ở truyện thơ cao hơn truyện cổ tích.

3. Đặc trưng ngôn ngữ thể loại truyện thơ

Ngôn ngữ truyện thơ là ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ của các làn điệu dân ca các dân tộc miền núi phía Bắc. Đó là loại ngôn ngữ gắn với nghi lễ của hát then, hát mo, ngôn ngữ của hát diễn xướng, hát giao duyên.

Truyện thơ là một loại truyện thơ dân gian nên ngôn ngữ của nó là ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật. Có loại ngôn ngữ dẫn truyện, có loại ngôn ngữ tự thuật của nhân vật, có loại ngôn ngữ tâm trạng của nhân vật. Ngôn ngữ tự thuật thường dùng đại từ tự xưng:

Thân tôi khổ đến chếtDưới bãi chẳng sợi rơmCổng vườn chẳng vỏ trấu(Vượt biển)

Ngôn ngữ của người kể lại có hai loại: loại ngôn ngữ dẫn truyện và loại ngôn ngữ nhập vai nhân vật. Ngôn ngữ dẫn truyện thường khách quan, mang đặc trưng kể tả, gần giống ngôn ngữ kể vè:

Nay hãy kể từ trước đến sauKể chuyện qua về bù chuyện tớiKể từ thời ấy ngày xưa...(Tiễn dặn người yêu)

Ngôn ngữ nhập vai thể hiện ngôn ngữ tâm trạng nhân vật, dạng đặc trưng của ngôn ngữ dân ca trữ tình:

Anh đã tính mà tính không đủAnh đã lo mà lo không trònNhư trèo cây cao lộn cổDẫu tiếc thương đời cũng lỡĐành nhìn em yêu bước về nhà chồng( Tiễn dặn người yêu)

Đây là tâm sự của chàng trai tự nói một mình, lời bày tỏ tâm trạng thất vọng, bất lực trước cảnh ngang trái.

Ngôn ngữ đối thoại gần với ngôn ngữ nói thường, ngắn gọn, khúc chiết. Đây là đoạn đối thoại giữa mẹ con Nhàng Dợ:

- Con ạ! Hãy đứng lên vui vẻ theo khách ra về- Mẹ ơi: Ăn con cũng không ănĐi con cũng không đi(Nhàng Dợ - Chà Tăng)

Ngôn ngữ truyện thơ được dùng chủ yếu là ngôn ngữ dân tộc theo từng truyện của từng dân tộc nhưng cũng có trường hợp dùng nguyên văn ngôn ngữ chữ viết tiếng Việt. Chẳng hạn truyện “Nàng Kim Quế” của dân tộc Tày, các từ “Nội phủ”, “Cung phi”, “Chúa Cả”, “Chúa Hai”, “Thượng thư”, “Quận công”, “Thái giám”...đều được ghi chép bằng tiếng Việt, hát bằng âm Việt:

Chúa Cả cùng với Chúa HaiRa coi đã thấy hai người đáng duyên...Mẹ cha dâu phải cúi đầuXong vào nội phủ, lạy vào cung phi(1)

Các thể thơ được dùng trong truyện thơ cũng rất đa dạng, có thể thơ 5 chữ, bảy chữ, thơ tự do, thơ lục bát như của người Việt. Nhịp điệu thơ tùy vào thể thơ và cách diễn xướng của nghệ nhân tương ứng với tâm trạng của nhân vật. Tâm trạng lo âu, hốt hoảng thể hiện rõ trong âm điệu câu thơ:

Em lập cập chạy ra sânMâm cơm chiều dọn vộiNghĩ đến anh mà nát ruột ganRun lập cập chạy vào đằng quảnCất tiếng xa gần trách chúGiúp cháu với, bác trai, bác gái nhà trênGiúp cháu với, ơi chú, ơi thím nhà dưới(Tiễn dặn người yêu)

Tác giả dân gian đã sử dụng ngôn ngữ tả, ngôn ngữ kể với các biện pháp so sánh, đối lập, khoa trương, rất đặc sắc, đậm đà phong cách dân tộc. Đây là biện pháp khoa trương đặc tả nước mắt nhiều đến mức:

Rỏ hai dòng, rỏ ba dòngDòng rơi đằng trước đủ rửa rau muôn giỏDòng rơi đằng sau đủ rửa rau muôn vườn(Tiễn dặn người yêu)

Ngôn ngữ truyện thơ có lối nói rất riêng, lối nói của người miền núi, hồn nhiên, giàu hình ảnh:

Chiều tối, mặt trời rụngMặt trời rơi xuống thấpMặt trời sát mặt phaiMặt trời qua sàn ngoài người thươngMặt trời quấn ngọn giang sắp lặnMặt trời quấn ngọn tre, ngọn bương sắp đấtMặt trời lặn, mặt trời không gọiMặt trời đi, mặt trời không chờ...

4. Không gian truyện thơ dân gian

Không gian trong truyện thơ lịch sử là không gian bản làng, không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc, không gian sản xuất và chiến đấu của các tộc người. Đó là không gian miền núi với thượng nguồn, núi non cây cối. Không gian trong truyện thơ bắt nguồn từ đề tài cổ tích, phản ánh thân phận của con người nghèo khổ, là không gian làng quê, bản làng, không gian gia đình và cả không gian xã hội. Không gian trong truyện thơ có địa chỉ cụ thể chứ không giống như trong cổ tích chủ yếu là phiếm chỉ. Chẳng hạn, trong truyện thơ “Chim sáo” đề cập đến địa danh phủ Chiết Giang. Thậm chí trong truyện “Vượt biển” có cả không gian ở cõi chết, một kiểu không gian ảo ảnh, vô hình được mô phỏng không gian trần thế. Không gian trong truyện thơ trữ tình là không gian gia đình, không gian làng quê, bản làng, không gian giao tiếp. Đó là không gian của gặp gỡ tình tự, suy tư. Một không gian cụ thể, xác định:

Đôi ta gặp nhau nơi sàn hoaTâm tình bên bếp lửaNhớ em anh ngồi đầu sàn giả ốmNgồi cuối sàn giả điên(Xống chụ xon xao)

5. Thời gian truyện thơ dân gian

Thời gian trong truyện thơ tùy thuộc vào tính chất của từng nhóm truyện. Trong truyện thơ kể về sự việc có liên quan đến lịch sử thì thời gian được phản ánh là thời gian lịch sử tương đối xác định. Trong truyện thơ Đại Hành và Bàn Đại Hội, thời gian được xác định cụ thể:

Giáp Dần, Ất Mão trời đại hạnBuộc lòng rời bản tới Việt Nam

Đó là những năm vào triều nhà Lê. Thời gian được thể hiện theo diễn tiến phát triển của xã hội các dân tộc từ khi nhập cư vào Việt Nam cho đến khi cuộc sống giàu có, thịnh vượng.

Thời gian trong nhóm truyện thơ lấy từ sự tích cổ tích là thời gian của một đời người như truyện “Nàng Con Côi”, “Chim Sáo”, “Nàng Kim Quế”. Nhưng cũng có truyện, thời gian không chỉ một đời người mà còn kéo dài ra hình như vô tận trong kiếp bên kia sau khi chết như truyện “Vượt biển”.

Thời gian trong nhóm truyện thơ trữ tình lấy từ dân ca là thời gian của tâm trạng, thời gian diễn tiến của cuộc tình từ khi họ gặp nhau, yêu nhau, thậm chí lúc còn nằm trong bụng mẹ (Tiễn dặn người yêu) đến kết thúc cuộc tình. Thời gian sự kiện được quan tâm tùy theo hoàn cảnh cụ thể. Trong truyện thơ “Tiễn dặn người yêu ”, mốc thời gian không tính bằng ngày tháng cụ thể mà tính bằng sự kiện:

Khi anh đi khăn Piêu đen em còn vắtKhi anh về áo co nhỏ đã dăng dăng đầy sàn

Ở nhóm truyện thơ này, thời gian không xác định cụ thể như hai nhóm truyện truyện thơ trên. Nó là dạng thời gian sự kiện: sự kiện họ gặp nhau - yêu nhau, thề thốt - Em bị gả bán - Em về nhà chồng - Đấu tranh và chờ đợi - Cùng chết hoặc cùng trốn với nhau để được sống gần nhau.

Các tác phẩm truyện thơ dân gian Việt Nam nổi bật

1. Hoa tiên (truyện thơ nôm)

Hoa tiên là truyện thơ Nôm do Nguyễn Huy Tự biên soạn và Nguyễn Thiện (người làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đậu hương cống năm 1870) nhuận sắc lại, nội dung dựa vào một ca bản của Trung Quốc là Đệ bát tài tử Hoa tiên ký 第八才子花箋記, nên nhiều bản chép tay vẫn đề tên truyện là Đệ bát tài tử Hoa tiên diễn âm. Truyện kể về cuộc tình duyên trắc trở giữa hai nhân vật chính: Lương sinh và Dương Dao Tiên, vì hai bên viết lời thề nguyền gắn bó với nhau trên hai tờ giấy hoa tiên nên truyện mới có tên là Hoa tiên.

Truyện Hoa tiên được viết phỏng theo một ca bản của Trung Quốc có nhan đề là Đệ bát tài tử Hoa tiên ký. Ca bản này viết bằng thể thơ thất ngôn cổ phong liền vận, thỉnh thoảng có phụ thêm mấy chữ ở đầu câu để chuyển ý. Vì vậy, có nhiều bản chép tay truyện Hoa Tiên vấn đề là Đệ bát tài tử Hoa tiên diễn âm.

2. Lục Vân Tiên (truyện thơ Nôm)

Truyện thơ Lục Vân Tiên 蓼雲仙 của Nguyễn Đình Chiểu là một tác phẩm được phổ biến rất sâu rộng ở Miền Nam, là một truyện thơ sáng tác theo thể lục bát vào đầu những năm 1850, và được Trương Vĩnh Ký phiên âm chữ quốc ngữ và cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1889. Đây là một cuốn tiểu thuyết về luân lý, cốt bàn đạo làm người với quan niệm văn dĩ tải đạo. Tác giả muốn đem gương người xưa mà khuyên người ta về cương thường - đạo nghĩa.

Mai đình mộng ký (truyện thơ dân gian Việt Nam)Trong số những tác giả đã có công lao, đóng góp lớn cho sự phát triển của văn học chữ Nôm, mà cụ thể là truyện thơ Nôm có Nguyễn Huy Tự với tác phẩm Hoa Tiên truyện và Nguyễn Huy Hổ với Mai đình mộng ký. Đây là hai tác giả khá đặc biệt. Họ là hai cha con, thuộc cự tộc họ Nguyễn Huy tại làng Trường Lưu.

Mai đình mộng ký là truyện thơ chữ Nôm gồm 298 câu thể lục bát có xen 2 bài thơ ngũ ngôn luật Đường được viết bởi Nguyễn Huy Hổ (1783-1841). Truyện thơ kể lại giấc mơ của tác giả trên đường đến thăm người anh trai đang dạy học ở Nam Đàn (Nghệ An). Nó nói lên tâm trạng hoài Lê của tác giả đồng thời kín đáo thể hiện thái độ bất mãn đối với triều Nguyễn. Mai đình mộng ký sử dụng nhiều từ Hán và điển cố. Nhìn chung, lời thơ rất điêu luyện, trau chuốt, bóng bảy, có nhiều đoạn tả thiên nhiên rất đẹp.

3. Thạch Sanh (truyện thơ nôm)

Thạch Sanh (石生) là tên một truyện thơ Nôm Việt Nam, viết theo thể lục bát ra đời vào cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19 do một tác giả khuyết danh và được người dân kể lại dưới nhiều dị bản.[1] Thạch Sanh đã trở thành hình tượng điển hình cho người tốt, hào hiệp, thật thà còn Lí Thông là hình tượng người xấu, gian xảo, tham lam trong văn hóa Việt Nam.

4. Tây sương ký

Tây sương ký (chữ Hán: 西廂記, “truyện ký mái Tây”), còn có tên đầy đủ là Thôi Oanh Oanh đãi nguyệt Tây sương ký (崔鶯鶯待月西廂記, “truyện về Thôi Oanh Oanh chờ trăng dưới mái Tây”), là vở tạp kịch của Vương Thực Phủ, sáng tác trong khoảng những năm Đại Đức (1297-1307) đời Nguyên Thành Tông, miêu tả cuộc tình duyên vượt qua môn đăng hộ đối và lễ nghi phong kiến của nàng Thôi Oanh Oanh và chàng thư sinh Trương Quân Thụy.

Khi công diễn lần đầu, “Tây sương ký” được khán giả đương thời yêu thích, phong là “Tây sương ký thiên hạ đoạt mị” (西廂記天下奪媚, Tây sương ký đoạt được cái đẹp rất mực của thiên hạ). Kim Thánh Thán về sau đã chọn và xếp đặt Tây sương ký vào vị trí thứ 6 trong Lục tài tử thư (6 cuốn sách tài tử ưu tú).

Truyện thơ dân gian Việt Nam và thế giới cho các béTruyện thơ Việt Nam và thế giới được thể hiện qua những thể thơ đơn giản sẽ giúp cho câu chuyện cổ tích của các bé trở nên vô cùng hấp dẫn và thú vị. Twinkl sàng lọc kỹ lưỡng từng tác phẩm, sao cho phù hợp với văn hóa và phong tục và độ tuổi của các bé.

Những truyện thơ Việt Nam cho bé hay những câu chuyện nổi tiếng trên thế giới đa phần đều được thể hiện bằng các thể thơ năm chữ, lục bát hay song thất lục bát quen thuộc, giúp cho các độc giả nhí dễ hiểu và dễ nhớ nhất.

Truyện thơ Vợ chàng Trương: là câu chuyện cổ tích ngợi ca lòng thủy chung của người phụ nữ Việt Nam, được kể lại một cách sáng tạo qua lời thơ của Bùi Thị Ngọc Điệp.

Cóc kiện Trời là một truyện thơ dân gian Việt Nam của tác giả Bùi Thị Ngọc Điệp, cho chúng ta thấy sức mạnh to lớn của lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết. Truyện còn có ý giải thích một hiện tượng quen thuộc trong đời sống hàng ngày, đó là mỗi khi cóc nghiến răng thì rất có thể trời sẽ sắp đổ mưa.


Mình là Khánh, người sáng lập nghengu.vn – nơi chia sẻ niềm yêu thích với tiếng Nghệ, tiếng Việt và những phương ngữ đa dạng. Mình mong muốn lan toả vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ đến nhiều người hơn. Nếu thấy nội dung hữu ích, bạn có thể ủng hộ bằng cách donate hoặc mua sản phẩm giáo dục qua các liên kết tiếp thị trong bài viết.

Cảm ơn bạn đã đồng hành!

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
https://thoitietviet.edu.vn đọc sách online https://xemthoitiet.com.vn https://thoitiet24.edu.vn fun88 เข้าระบบ TOPCLUB 88xx 79king ssc88 Cm88 CM88 https://open88s.com/ C168 ufabet https://webmarket.jpn.com/ Luck8 Sv388 Xoilac Socolive TV Link nbet XX88 Socolive 78WIN KJC https://okvip26.com/ xoso66 Vin777 88VV Xoilac TV Live trực tiếp Cakhia TV Nohu90 Xoilac TV Socolive https://tt8811.net https://789pai.com https://mmoo.com.de go88 Go99 c168 com five88 ggwin oxbet one88 xo88 33WIN https://playta88.com/ Bongdalu FUN88 fo88 86bet ok9 red88 KJC kèo nhà cái 5 ok9 zowin debet 8kbet Cakhia TV Trực tiếp bóng đá Fun88 Bet KJC lu88 W88 Alo789 99OK MB66 FLY88 FLY88 OK9 COM oxbet five88 net88 https://c168.tel/ https://c168b.com/ 789bet f8bet f8bet new88 new88 ta88 debet fabet cakhiatv Ok365 OPEN88.COM https://sunwin97.in.net https://383sports.baby 84win B52CLUB ZBET NET88 C168 xem bóng đá luongsontv