Viết đoạn văn 200 chữ phân tích thông điệp trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Đề bài: Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích thông điệp trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ. Thơ đề “Kính gởi ông Hai Tương”. Cả nhà bối rối không ít. Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu rồi, thấy có người nhắc lại chồng, bà cụ Hai Tương nhớ quá ứa nước mắt. Khui lá thơ ra, thì ra là thơ mời nói chuyện khởi nghĩa.
Con Tươi ngồi chắt nước cơm ngoài sau bếp, than trong bụng: “Mấy chuyện đó kể muốn thuộc lòng rồi, bắt kể hoài, bộ mấy ổng hổng chán sao”.
Cái khởi nghĩa đó xảy ra đã lâu lắm rồi. Dân xứ này có người nhớ, người không. Cái người không nhớ thì cũng nhớ được hai ngày. Ngày thứ nhất là ngày giỗ chung những người khởi nghĩa bị giặc bắn ngoài chợ. Ngày thứ hai là cái ngày kỷ niệm khởi nghĩa. Xã tưng bừng dựng cờ đỏ chói, chạy xuồng máy rước mấy cụ lão thành lại đằng chỗ ủy ban ngồi uống nước trà, ôn lại chuyện cũ. Những chuyện mà các cụ cất vô trong tim, trong máu, buổi sáng nhớ, buổi chiều nhớ, buổi tối cũng nhớ.
(…) Hồi còn sống, ông nội thương con Tươi nhất. Tươi cũng thương ông nội, quấn quít bên ông. Công việc của nó là nấu cơm, chở nước, quét dọn nhà cửa. Thời gian rảnh ngồi nghe ông nội kể chuyện xưa, nghe bà nội kể chuyện còn xưa hơn nữa. Thằng Sáng suốt ngày chạy nhảy, ăn chực ở nhà hàng xóm, trề môi như đưa đò:
- Ông nội khó thấy mồ.
Tươi không nghĩ ông nội khó, nhưng ông nội hơi lạ lùng. Ông nội dắt Tươi ra biển đứng sục chân trong bùn, nghe nước biển lấp liếm đầu gối, nội chỉ hướng Hòn.
- Bây coi kìa, Hòn đó.
- Dạ, xa quá hen nội.
- Bây ơi - nội đột nhiên nghẹn ngào - tao nhớ Hòn quá.
(…) Má Tươi bảo: “Con Tươi đi theo ông nội riết nó… khùng”. Nó không khùng, nhưng nó già trước tuổi, nó già theo những câu chuyện xưa. Ông nội ngộ lắm. Ông nói cho nó biết sở dĩ bùn xứ nó mặn là vì có rất nhiều xương máu của chú, bác, cô, dì đã đổ xuống, trong đó đương nhiên là có máu của Thầy, của mấy anh em khởi nghĩa. Ông nói cho nó biết sống làm sao như cây đước thẳng tuột ưỡn ngực giữa sình lầy và còn nhóc chuyện nữa. Tươi cảm thấy mình phải có nhiệm vụ ghi nhớ những gì mà ông nội nói. Vì ba má nó lo làm ăn không có ở đây để nghe, vì thằng Sáng không muốn nghe. Rồi một bữa khác, ông nội nó ra bãi ngồi tới chạng vạng không chịu vô nhà. Ngồi coi biển đục ngầu, ngồi coi mặt trời lặn. Tươi năn nỉ ông vô nhà để ở ngoài này gió máy, cảm chết. Ông nội nó không chịu vô, vò đầu nó than:
- Tao thương Thầy quá. Nhớ Thầy quá. Tao thèm gặp Thầy, gặp anh
Ðâu ngờ cái lần nội nói đó, nội đi gặp Thầy thiệt. Xóm Rạch vắng một người già cỗi cằn ngồi hát Sử hận, mấy ông làm phim, viết sử tiếc đứt ruột ông già sống qua những tháng năm biến động và nhứt là đã trải qua cuộc khởi nghĩa trên Hòn (…)
(Trích Ngọn đèn không tắt, Tập truyện ngắn - In lần thứ 19, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, tr5-9)
Dàn ý Đoạn văn 200 chữ phân tích thông điệp trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, thông điệp trong truyện.
Thân đoạn:
- Phân tích, chứng minh thông điệp trong truyện.
- Một vài thông điệp trong tác phẩm:
+ Sự biết ơn những người có công với đất nước.
+ Tình cảm yêu thương giữa các thành viên trong gia đình.
+ Chiến tranh dù đã qua đi nhưng vẫn để lại những kí ức không thể nào quên.
+ Con người phải sống thật ngay thẳng dù đang ở trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Kết đoạn: Khẳng định giá trị thông điệp đối với truyện/trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm/tác giả.
Đoạn văn 200 chữ phân tích thông điệp trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của tác giả Nguyễn Ngọc Tư (Mẫu 1)
Trong cuộc sống, có những hình ảnh giản dị nhưng chứa đựng sức gợi lớn lao, làm lay động tâm hồn con người. Truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư đã để lại trong lòng người đọc một thông điệp sâu sắc về tình người, niềm tin và nghị lực vượt qua nghịch cảnh. Hình ảnh ngọn đèn dầu le lói trong căn nhà nghèo không chỉ là công cụ chiếu sáng mà còn là biểu tượng cho sự sống, cho niềm hy vọng bền bỉ của con người trước khó khăn. Người mẹ trong truyện đã gồng gánh cả gia đình, dẫu vất vả trăm bề vẫn quyết tâm giữ ngọn đèn sáng. Bà thắp sáng ngọn đèn không chỉ để xua đi bóng tối, mà còn để con cái có thể học tập, nuôi dưỡng ước mơ và hy vọng về một ngày mai tốt đẹp. Chính tình thương, sự hy sinh thầm lặng ấy đã làm cho ngọn đèn không bao giờ tắt, cũng như tình mẹ không bao giờ vơi cạn. Thông qua câu chuyện, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa một bài học quý giá: trong nghèo khó, con người càng cần niềm tin và khát vọng; trong gian truân, tình yêu thương chính là sức mạnh nâng đỡ để vượt qua tất cả. Ngọn đèn trong truyện, vì thế, không chỉ soi sáng căn nhà nghèo, mà còn soi sáng lòng người, nhắc nhở chúng ta hãy biết trân trọng, gìn giữ tình yêu thương và sống kiên cường để giữ vững “ngọn đèn” niềm tin trong mỗi cuộc đời.
Đoạn văn 200 chữ phân tích thông điệp trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của tác giả Nguyễn Ngọc Tư (Mẫu 2)
Truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” của Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm thông điệp sâu sắc về sức mạnh của tình người, sự bền bỉ và hy vọng giữa nghịch cảnh. Thông qua hình ảnh ngọn đèn dầu trong đêm tối, tác giả thể hiện sự kiên trì, nhẫn nại của người mẹ nghèo túng trong việc chăm sóc đứa con bị bệnh. Ngọn đèn không chỉ là ánh sáng vật chất xua tan bóng tối, mà còn là biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt, luôn tỏa sáng dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu. Bên cạnh đó, tác giả còn khắc họa rõ nét sự lạc quan, niềm tin vào cuộc sống của người mẹ. Dù phải đối mặt với bệnh tật của con, với sự thiếu thốn về vật chất, bà vẫn không hề gục ngã. Ngọn đèn dầu nhỏ bé ấy chính là ngọn lửa hy vọng, là niềm tin mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng hơn. Sự hy sinh thầm lặng của người mẹ đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc, khẳng định giá trị cao cả của tình yêu thương và lòng vị tha. Thông điệp của tác phẩm không chỉ dừng lại ở đó. Nguyễn Ngọc Tư còn muốn nhắn nhủ về sự cần thiết của lòng nhân ái, sự sẻ chia trong cộng đồng. Sự giúp đỡ của những người hàng xóm, dù nhỏ bé, cũng góp phần thắp sáng ngọn đèn hy vọng, giúp người mẹ vượt qua khó khăn. Điều này cho thấy sức mạnh của sự đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống. Truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” là một tác phẩm giàu cảm xúc, mang đến cho người đọc nhiều suy ngẫm về tình người, lòng nhân ái và sức mạnh của niềm tin.
Đoạn văn 200 chữ phân tích thông điệp trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của tác giả Nguyễn Ngọc Tư (Mẫu 3)
Có thứ ánh sáng không rực rỡ nhưng đủ khiến tim người ấm lại giữa đêm dài. Có những câu chuyện không bi lụy, nhưng khiến lồng ngực thắt lại từng hồi. Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư chính là ngọn lửa âm ỉ ấy không bùng cháy, nhưng không bao giờ lụi tàn. Tập truyện ngắn là bản nhạc u hoài về số phận con người, về quá khứ chưa từng vắng mặt trong ký ức những người ở lại. Thông điệp mà tác phẩm gửi gắm không chỉ nằm ở lòng tri ân với thế hệ đi trước, mà còn là lời nhắc về sự sống tiếp của ký ức, của nhân cách giữa những biến thiên nghiệt ngã của thời gian. Dẫu người ngã xuống, dẫu ánh hào quang xưa phai mờ, thì lòng người vẫn giữ lấy. Như ngọn đèn bé nhỏ cứ cháy hoài giữa gió lạnh. Truyện gợi cho ta niềm tin rằng: khi con người biết sống với lòng thành kính, biết giữ lấy những giá trị trong veo giữa đời mờ đục, thì dù hoàn cảnh có quật ngã thể xác, ánh sáng trong tim vẫn không hề tắt. Đó là ánh sáng của nhân phẩm, của tình người, của ký ức chưa bao giờ buông bỏ ta.
Ý kiến bạn đọc
Bài viết xem nhiều
-

Sẽ Gầy Là Gì? Giải Mã Mật Ngữ Kín Đáo Của Gen Z Giữa Cõi Mạng
-

Trung thủy hay chung thủy từ nào đúng chính tả? Vì sao nhiều người viết sai?
-

Viết chặt chẽ hay chặt chẻ mới đúng chính tả? Mẹo phân biệt nhanh
-

Xuất Sắc Hay Suất Xắc? Khi Con Chữ Tìm Đúng Chỗ Đứng Của Mình
-

Xẻ gỗ hay sẻ gỗ đúng chính tả? Cách phân biệt xẻ và sẻ
-

Chân trâu hay trân châu từ nào viết đúng chính tả trong tiếng Việt?
-

Nhân vô thập toàn là gì? Hiểu đúng về câu nói hay của người xưa
-

Đẹp đẻ hay đẹp đẽ cách viết nào đúng chính tả tiếng Việt?
-

Dạt dào hay rạt rào từ nào mới đúng chính tả tiếng Việt?
-

Viết trẻ trung hay trẻ chung mới đúng? Mẹo phân biệt trung và chung
-

Phong cách sáng tác của Tố Hữu: Chất thơ Trữ tình, chính trị





